Thanh Chương - Nghệ An Online

Go Back   Thanh Chương - Nghệ An Online > THANH CHƯƠNG XƯA VÀ NAY > Văn hiến > CLB Hán Nôm

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 28-10-2011, 03:57 PM   #181
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default

Trích:
quanlenh đã viết View Post
古人折柳送別情
典迹留名萬色形
詩樂古今爲卓絕
清遭談論守後生


胡志明市,辛卯年,林先生

Cổ nhân chiết liễu tống biệt tình
Điển tích lưu danh vạn sắc hình
Thi nhạc cổ kim vi trác tuyệt
Thanh tao đàm luận thú hậu sinh .
Lại muốn luận về "Chiết liễu" đây
Cổ nhân truyền tụng vốn xưa nay
Thực dụng đời này còn lưu dấu
Hay chỉ vướng hồn nỗi đắng cay ?
__________________
Quản Lệnh Thổ Hào
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 06-11-2011, 08:37 PM   #182
huyluantu
Thôn viên
 
Tham gia ngày: Nov 2011
Bài gửi: 12
Cảm ơn: 5
Được cảm ơn 33 lần trong 9 bài
huyluantu is on a distinguished road
Default

vãn bối xin kính chào các vị tiền bối. vãn bối năm nay là sinh viên năm t3 lớp k54 Hán Nôm khoa Văn Học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại Học Quốc Gia Hà Nội) xin các vị tiền bối chỉ giáo.
__________________
Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu Hán
Phá vòng vây làm bạn kim ô
Giang sơn khách diệc tri hồ.
huyluantu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 06-11-2011, 11:22 PM   #183
huyluantu
Thôn viên
 
Tham gia ngày: Nov 2011
Bài gửi: 12
Cảm ơn: 5
Được cảm ơn 33 lần trong 9 bài
huyluantu is on a distinguished road
Default

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ KHUẾCH ĐẠI NHÂN DỤC - thuyên thích mới về bốn chữ tâm truyền của Nho gia: “nhân tâm duy nguy” (人心維危)

Nhân dục là điều mà các tôn giáo đều quan tâm đặc biệt và có thái độ đối xử “rắn” đối với nó. Phật giáo dứt khoát tuyên bố diệt dục. Những điều răn giới của Phật giáo hầu như đều có liên quan tới nhân dục. Nhân dục được xem là nguồn gốc của vạn khổ. Nho gia thì chủ trương kiểm soát, điều tiết, chế ước nhân dục, làm cho nhân dục phù hợp với quy phạm xã hội, mức độ cao nhất là đồng nhất nhân dục và Lễ (quy phạm xã hội). Các vị đại Nho đời Tống-Minh chủ trương tu dưỡng khắt khe nghiêm cẩn và chịu tác động của Phật giáo nên cũng tuyên bố “tồn thiên lý diệt nhân dục”. Mười sáu chữ tâm truyền được coi là ấn quyết của Nho gia lần đầu nêu trong tác phẩm kinh điển Thượng thư đã lưu ý truyền đời về sự mong manh của nhân tâm rằng: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”. Duy chỉ có học thuyết của Đạo gia được xem là túng dục, tức buông cho nhân dục theo lẽ tự nhiên, không trói buộc. Tuy nhiên đó chỉ là ở nguyên lý coi trọng cái tự nhiên, còn trong phép tu dưỡng, Đạo gia cũng hướng tới trạng thái thanh tĩnh tự nhiên, hư tâm, tĩnh tâm, thiểu tư quả dục. Trạng thái ấy suy cho cùng cũng là thứ nhân dục có chừng mực, phù hợp với đạo tự nhiên vốn đã chí mỹ chí thiện chỉ cần bảo tồn nó. Các triết gia trong học thuyết của mình luôn tìm mọi cách hạn chế nhân dục để bảo vệ sự tồn tại bình ổn của xã hội, bình ổn cho thân tâm các cá nhân. Ai cũng hiểu rằng, nhân dục, quyền lợi của cá nhân và sự bình ổn xã hội, lợi ích xã hội luôn mâu thuẫn với nhau, trái chiều nhau.

Chỗ dựa của kinh tế thị trường chính là nhân dục, là cái mà người ta gọi là “thị hiếu của người tiêu dùng”. Chỉ cần quan sát một số chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, ta thấy một sự mời chào vẫy gọi mãnh liệt đối với “thị hiếu” của dân chúng. Những ngôi nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi, những chiếc xe hiện đại đời mới, những đồ dùng đa chức năng hấp dẫn, vvv…. được chào mời bằng những lời quảng cáo ngọt ngào còn hơn cả lời Bạch Cốt Tinh: hãy thử xem, chỉ một lần, hãy tận hưởng cuộc sống…hãy nếm thử, “cứ gọi là thôi rồi…sướng … ướng ư ử”… Khẩu hiệu của người sản xuất hàng hóa là: đã làm cho người tiêu dùng thích rồi, còn làm cho họ thích nữa, đã sướng rồi còn sướng nữa, tiện nghi rồi còn tiện nghi nữa, mát rồi còn mát nữa…Còn một loại hàng hóa khá đặc biệt khác với nhãn hiệu Number one thì treo một cái “status” hấp dẫn là “Thỏa sức yêu thương”… Những nhân viên nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng thì đào từng ngóc ngách thị hiếu, xem người ta thích gì thì đánh vào chỗ đó. Và cứ thế, hàng ngày nhân dục được khai thác, được tận dụng, được khuếch trương, được lôi kéo và được làm thỏa mãn. Nền sản xuất hàng hóa nắm cái nhân dục cũng như người nông dân nắm cổ con trâu đã được xỏ mũi mà lôi đi. Hôm nay thấy bạn mình có cái váy đẹp mà mình chưa có, tối về thấy khổ sở mất mấy tiếng đồng hồ. Mai thấy bạn mình sắm được ô tô đẹp mà mình vẫn phải đi cái xe máy rách thấy vừa ghen tức, vừa khổ sở, vừa thèm khát. Và nỗi thống khổ giày vò họ ngày này sang ngày khác. Cầu bất đắc khổ, mà cầu thì biết bao giờ cho hết, cái cầu ngày hôm sau lớn hơn cái cầu ngày hôm trước, vì nhân dục đang được chăm sóc và nuôi cho lớn lên. Cầu càng lớn, thì bất đắc cũng sẽ tăng theo. Nhu cầu lớn, khát khao nhiều mà không được làm thỏa mãn, không thể thỏa mãn dẫn tới thái độ thù ghét, hằn học với đời, với người. Ta nào có kém gì nó tại sao nó sướng thế còn ta thì không thể. Những quảng cáo vẫy gọi sự sung sướng là một sự hành xác với người nghèo, khiến người nghèo không thể yên với cái nghèo. Nếu như họ không phải là người có một bản lĩnh và chỗ dựa tinh thần, chỗ dựa văn hóa nhất định thì con đường hành ác, đạt tới mục tiêu có được giàu sang và đời sống tiện nghi bằng mọi giá là có thể xảy ra. Đó chính là khởi đầu cho con đường của tội ác. Thế mới thấy cái lý tưởng của ông Lão tử về một xã hội không trao đổi tiền bạc tưởng chừng lẩm cẩm cổ hủ Khốt ta bít mà lại có cái sâu sắc của bậc đại triết gia nhìn thấu nhân tâm.

Chắc chắn rằng nền kinh tế thị trường có tác dụng vĩ đại đối với đời sống con người. Nhu cầu vật chất của con người được thoả mãn là công lao của nền kinh tế thị trường. Nó đóng góp vĩ đại trong việc đem lại hạnh phúc cho con người từ góc độ vật chất, cũng như nhu cầu tinh thần, cũng tức là đem hạnh phúc cho con người bằng cách làm thỏa mãn ham muốn của con người. Nhưng có ai dám cam đoan rằng, con người của thế kỷ XXI ít khổ hơn con người của thời kỳ Đức Thích Ca Mâu Ni thấu ngộ được chân lý của khổ đế và dồn trí huệ sáng suốt của mình vào việc diệt khổ, giải thoát khỏi khổ. Cái thời kinh tế thị trường, nhân dục được đào sâu, được chăm sóc, được thỏa mãn, được vẫy gọi, hình như cái khổ của nhân tâm con người lại càng phong phú hơn, càng đa dạng hơn, càng phức tạp hơn, càng nhiều cung bậc hơn. Nhân dục được đẩy lên, một khi cá nhân không tự đáp ứng được, xã hội không đáp ứng được, thì lúc đó, chính nó là kẻ thù to lớn tàn phá nhân tâm và xã hội. Nó giống như con quái vật mà người ta nuôi làm thí nghiệm khi sổng ra khỏi vòng kiềm tỏa nhảy ra xã hội gây tội ác tương tự như nhiều bộ phim hành động rùng rợn của Mỹ đã tưởng tượng ra vậy.

Nhân dục bị thổi phồng và khuếch trương, chắc chắn khả năng kiềm tỏa và kiểm soát điều tiết cũng khó khăn hơn nhiều. Con người cũng vì kinh tế thị trường mà sướng hơn nhưng cũng vì thế mà nhiều thất vọng hơn, nhiều sự đổ vỡ hơn. Sự chuyển động của kinh tế thị trường nếu không có luật pháp nghiêm minh và cả sự điều tiết mang tính tôn giáo hữu hiệu, sự giáo dục về đạo đức xã hội được đẩy mạnh thì thảm họa đối với nhân tâm con người thực là khôn lường.
Thời mà người ta có thể giữ tâm an lạc trong cái nghèo đã qua lâu rồi và thời người ta khổ sở trong cả cái giàu lẫn cái nghèo đang tới. Chỉ có bậc trí giả biết tự điều tiết cho nhân tâm mình, biết tri túc và trau dồi những tố chất văn hóa cần thiết, người ta mới có thể giữ cho mình một chữ “tại” ( tự tại) được.

Nhân tâm duy nguy…

Hà Nội tháng 9/2011
Posted by Nguyen Kim Son at 3:38 AM. bài viết của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn Gỉảng viên Bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại Học KHXH&NV.
__________________
Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu Hán
Phá vòng vây làm bạn kim ô
Giang sơn khách diệc tri hồ.
huyluantu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 07-11-2011, 07:59 AM   #184
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default

Trích:
huyluantu đã viết View Post
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ KHUẾCH ĐẠI NHÂN DỤC - thuyên thích mới về bốn chữ tâm truyền của Nho gia: “nhân tâm duy nguy” (人心維危)
...
Posted by Nguyen Kim Son at 3:38 AM. bài viết của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn Gỉảng viên Bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại Học KHXH&NV.
Cuộc sống đương đại, những thành quả khoa học, những phát minh trí tuệ loài người đến thời điểm này đang chứng minh tính xác thực về “nhân tâm duy nguy” (人心維危) !
__________________
Quản Lệnh Thổ Hào
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 09-11-2011, 10:30 PM   #185
huyluantu
Thôn viên
 
Tham gia ngày: Nov 2011
Bài gửi: 12
Cảm ơn: 5
Được cảm ơn 33 lần trong 9 bài
huyluantu is on a distinguished road
Default

LÀM THẦY KHÓ, LÀM TRÒ CŨNG CHẲNG DỄ



Xưa nay người đi học đối với thầy và với học thuật của thầy tồn tại nhiều loại thái độ khác nhau. Trong trường hợp ông thầy là một học giả, một người có uy tín học thuật thì mối quan hệ hay cách nhìn của học trò đối với đạo của thầy ( và đương nhiên là với cả thầy) thường thể hiện thành vài loại thái độ:
Loại thái độ thứ nhất: càng học, càng đọc, càng theo thầy, càng nghiền ngẫm về đạo của thầy, càng hiểu càng thấy thầy mình cao vời vợi, càng nghe càng thấy thầy như Thái sơn Bắc đẩu sừng sững không thể và không cách gì với tới, chưa nói chuyện vượt qua. Học trò càng học càng thấy mình nhỏ bé yếu đuối. Đây có thể là một cảm giác mà học trò đối mặt, cảm nhận thấy một cách nghiêm túc thực sự. Dĩ nhiên đó cũng có thể là một biểu thị khiêm tốn, hoặc để tôn cao thầy. Cá biệt cũng có người đề cao thầy chẳng phải vì thầy mà là một cách gián tiếp tôn cao mình. Các trường hợp này có thể tìm thấy khá phong phú trong lịch sử giáo dục.
Trong các học trò của Khổng phu tử, chúng ta biết người học trò được ông yêu quý nhất là Nhan Hồi. Nhan Hồi là cao đệ bậc nhất được Khổng tử công khai thừa nhận và không tiếc lời ngợi khen. Ông kỳ vọng Nhan Hồi có thể kế tục và phát triển được học thuyết của mình. Về phía Nhan Hồi, ông tiếp thu tất cả những gì mà thầy truyền dạy, những điều thầy dạy bảo đối với Nhan Hồi đều là chân lý, đều thiêng liêng. Ông “ mặc nhi thức chi” một cách tuyệt đối và tiếp nhận trong mọi trường hợp, ngấm một chiều và ngấm một cách tự nhiên, chỉ có hỏi thêm mà không thắc mắc. Cách tiếp thu của ông khiến nhiều người tưởng ông là người ngu. Ông không hề thắc mắc hay phản ứng gì. Có người cho rằng có thể năng lực trác việt đã khiến ông tiếp nhận được và thấu triệt được tất thảy mọi sự truyền giảng phức tạp nhất từ thầy, tương tự như cặp thầy trò Thích Ca – Ca Diếp với câu chuyện về một nhành hoa bốn ánh mắt, hai nụ cười và một Thiền ngữ nổi tiếng.
Nhan Hồi nói về đạo của thầy: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân, bác ngã dĩ văn ước ngã dĩ lễ, ký kiệt ngô tài nhi hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ” ( Luận ngữ. Tử hãn) ( Càng ngẩng trông càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau. Phu tử giỏi dẫn dắt người từng bước từng bước, lấy văn mã mở mang cho ta, lấy lễ mà ước thúc ta, ta đã vận dụng hết khả năng của mình mà vẫn thấy đạo của thầy sừng sững trước mặt. Ta muốn theo đạo đó, nhưng chắc chỉ được phần nào mà thôi)
Trong lời Nhan Hồi tán dương đạo của thầy, ta thấy có cả tiếng thở dài bất lực của người học trò vĩ đại này. Nhà nho thường nói tới tinh thần Khổng Nhan lạc xứ, tức cái vui, cái lạc thú của Nho gia trong việc tu thân dưỡng tâm, trong cuộc sống nho môn đạm bạc, nhưng ở đây rõ ràng không phải lúc nào họ cũng vui, lúc nào cũng lạc cả, thế mới là cuộc đời. Chữ Lạc của Nho là nói về thái độ sống, là nói tới việc tu dưỡng, còn ở đây nhìn từ góc độ nhìn nhận và đối đãi với học thuyết của thầy, Nhan hồi có chút bi kịch, bi kịch của học trò bị ngợp trong học thuyết của thầy. Ông cố gắng biến mình thành một hiện hữu sống của đạo đức theo mẫu mực mà Khổng tử mong muốn. Khổng tử khen Nhan Hồi là người hiếu học, chỉ duy nhất ông được khen như vậy. Khi Nhan Hồi chết, Khổng tử nói hiện không còn ai hiếu học nữa.
Ông Trình Hạo đời Tống ca ngợi việc học của Nhan Hồi[1], kiên quyết cho rằng nếu ông không chết sớm thì rất có thể sự học sẽ đưa ông tới sự chuyển hóa mà thành thánh nhân, tiếc rằng ông đã không sống được tới ngày đó, vì thế ông chỉ là bậc hiền giả mà thôi. Nếu ông sống tiếp, có thể ông vẫn cứ thành thánh nhân với mẫu mực đạo đức tuyệt vời. Ta cũng không biết sau khi thành thánh nhân trông ông có tựa kẻ ngu nữa hay không. Nhưng cứ giả sử như Nhan Hồi không chết sớm, sự tôn sùng đạo của thầy đã khiến ông không mảy may nghi ngờ, và vì thế khó có thể phát triển được học thuyết của thầy. Đã thấy đạo của thầy tận thiện tận mỹ thì hẳn sẽ không nghĩ tới việc thêm vào hay sửa đổi cho tốt thêm.
Khác với Nhan Hồi, Tăng Sâm lại là một mô thức khác hẳn. Ông không được khen ngợi như Nhan Hồi, nhưng cũng được Khổng tử coi là học trò giỏi và thường giảng giải cho những điều cốt yếu. Tăng Sâm không bị choáng ngợp trước thuyết của thầy, ông luôn tỏ ra chủ động nắm được điều cốt yếu, then chốt, điểm quán xuyết học thuyết của thầy. Luận ngữ còn kể lại, một lần Khổng tử nói với Tăng Sâm rằng: “ Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng Sâm chỉ khẽ “ dạ”. Khi thầy Khổng đi ra, những người khác hỏi Tăng Sâm rằng thầy vừa nói điều gì, Tăng Sâm trả lời, đạo của thầy chẳng qua chỉ là trung thứ mà thôi. Tăng Sâm đã liễu ngộ được điểm cốt yếu của đạo thầy.
Loại thái độ thứ hai: Mới được thầy truyền cho chút ít đã thấy mình cũng chẳng kém ai, cũng vĩ đại rồi, tri thức nhân loại chỉ có chút thế mà thôi, ông ấy thì chẳng có gì là lớn cả. Nếu thực tế đạo của thầy chẳng ra gì thật thì không có gì phải bàn, nhưng cũng nên bày tỏ sự tôn trọng mà tìm người khác giỏi hơn để mà học. Nguy hiểm thực sự là kẻ được học người giỏi mà không thấy thầy hay, khinh mạn cho rằng mình hơn người, hơn thầy rồi.
Thái độ cầu học và đối đãi với sở học của thầy quả là không dễ dàng gì. Sùng kính thái quá mà thấy mình nhỏ bé đi cũng không nên. Khinh mạn, tự cao mà không biết tôn trọng thầy đương nhiên là khiếm khuyết về cả đạo đức lẫn trí tuệ. Kẻ minh triết có lẽ là cần sáng suốt tự thủ, thầy dẫu thật giỏi cũng nên cố học, cố tìm cái gì còn có thể bổ khuyết để cầu tiến, thầy chưa thật giỏi thì cũng phải biết trân trọng những gì mà thầy đã tạo ra để làm thêm, để đi tiếp. Trân trọng những giá trị tri thức, tinh thần dù nhiều dù ít mà thế hệ trước tạo dựng, coi đó như nhũng viên gạch đặt nền cho ta cao thêm. Đương nhiên, làm được thế trò cũng không thể là loại xoàng, thầy cũng phải là người đáng làm thầy, đủ để dẫn dắt học trò.
Làm thầy khó, làm trò cũng chẳng dễ
(11.2011. Nhân đọc lại bài Nhan tử sở hiếu hà học luận )


[1] Xem :" Cận thư lục - Nhan tử sở hiếu hà học luận"

Posted by Nguyen Kim Son at 3:29 PM bài viết của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn Gỉảng viên Bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại Học KHXH&NV.
__________________
__________________
Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu Hán
Phá vòng vây làm bạn kim ô
Giang sơn khách diệc tri hồ.
huyluantu vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 10-11-2011, 08:57 AM   #186
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default

Trích:
huyluantu đã viết View Post
LÀM THẦY KHÓ, LÀM TRÒ CŨNG CHẲNG DỄ



Xưa nay người đi học đối với thầy và với học thuật của thầy tồn tại nhiều loại thái độ khác nhau. Trong trường hợp ông thầy là một học giả, một người có uy tín học thuật thì mối quan hệ hay cách nhìn của học trò đối với đạo của thầy ( và đương nhiên là với cả thầy) thường thể hiện thành vài loại thái độ:
Loại thái độ thứ nhất: càng học, càng đọc, càng theo thầy, càng nghiền ngẫm về đạo của thầy, càng hiểu càng thấy thầy mình cao vời vợi, càng nghe càng thấy thầy như Thái sơn Bắc đẩu sừng sững không thể và không cách gì với tới, chưa nói chuyện vượt qua. Học trò càng học càng thấy mình nhỏ bé yếu đuối. Đây có thể là một cảm giác mà học trò đối mặt, cảm nhận thấy một cách nghiêm túc thực sự. Dĩ nhiên đó cũng có thể là một biểu thị khiêm tốn, hoặc để tôn cao thầy. Cá biệt cũng có người đề cao thầy chẳng phải vì thầy mà là một cách gián tiếp tôn cao mình. Các trường hợp này có thể tìm thấy khá phong phú trong lịch sử giáo dục.
Trong các học trò của Khổng phu tử, chúng ta biết người học trò được ông yêu quý nhất là Nhan Hồi. Nhan Hồi là cao đệ bậc nhất được Khổng tử công khai thừa nhận và không tiếc lời ngợi khen. Ông kỳ vọng Nhan Hồi có thể kế tục và phát triển được học thuyết của mình. Về phía Nhan Hồi, ông tiếp thu tất cả những gì mà thầy truyền dạy, những điều thầy dạy bảo đối với Nhan Hồi đều là chân lý, đều thiêng liêng. Ông “ mặc nhi thức chi” một cách tuyệt đối và tiếp nhận trong mọi trường hợp, ngấm một chiều và ngấm một cách tự nhiên, chỉ có hỏi thêm mà không thắc mắc. Cách tiếp thu của ông khiến nhiều người tưởng ông là người ngu. Ông không hề thắc mắc hay phản ứng gì. Có người cho rằng có thể năng lực trác việt đã khiến ông tiếp nhận được và thấu triệt được tất thảy mọi sự truyền giảng phức tạp nhất từ thầy, tương tự như cặp thầy trò Thích Ca – Ca Diếp với câu chuyện về một nhành hoa bốn ánh mắt, hai nụ cười và một Thiền ngữ nổi tiếng.
Nhan Hồi nói về đạo của thầy: “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân, bác ngã dĩ văn ước ngã dĩ lễ, ký kiệt ngô tài nhi hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ” ( Luận ngữ. Tử hãn) ( Càng ngẩng trông càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau. Phu tử giỏi dẫn dắt người từng bước từng bước, lấy văn mã mở mang cho ta, lấy lễ mà ước thúc ta, ta đã vận dụng hết khả năng của mình mà vẫn thấy đạo của thầy sừng sững trước mặt. Ta muốn theo đạo đó, nhưng chắc chỉ được phần nào mà thôi)
Trong lời Nhan Hồi tán dương đạo của thầy, ta thấy có cả tiếng thở dài bất lực của người học trò vĩ đại này. Nhà nho thường nói tới tinh thần Khổng Nhan lạc xứ, tức cái vui, cái lạc thú của Nho gia trong việc tu thân dưỡng tâm, trong cuộc sống nho môn đạm bạc, nhưng ở đây rõ ràng không phải lúc nào họ cũng vui, lúc nào cũng lạc cả, thế mới là cuộc đời. Chữ Lạc của Nho là nói về thái độ sống, là nói tới việc tu dưỡng, còn ở đây nhìn từ góc độ nhìn nhận và đối đãi với học thuyết của thầy, Nhan hồi có chút bi kịch, bi kịch của học trò bị ngợp trong học thuyết của thầy. Ông cố gắng biến mình thành một hiện hữu sống của đạo đức theo mẫu mực mà Khổng tử mong muốn. Khổng tử khen Nhan Hồi là người hiếu học, chỉ duy nhất ông được khen như vậy. Khi Nhan Hồi chết, Khổng tử nói hiện không còn ai hiếu học nữa.
Ông Trình Hạo đời Tống ca ngợi việc học của Nhan Hồi[1], kiên quyết cho rằng nếu ông không chết sớm thì rất có thể sự học sẽ đưa ông tới sự chuyển hóa mà thành thánh nhân, tiếc rằng ông đã không sống được tới ngày đó, vì thế ông chỉ là bậc hiền giả mà thôi. Nếu ông sống tiếp, có thể ông vẫn cứ thành thánh nhân với mẫu mực đạo đức tuyệt vời. Ta cũng không biết sau khi thành thánh nhân trông ông có tựa kẻ ngu nữa hay không. Nhưng cứ giả sử như Nhan Hồi không chết sớm, sự tôn sùng đạo của thầy đã khiến ông không mảy may nghi ngờ, và vì thế khó có thể phát triển được học thuyết của thầy. Đã thấy đạo của thầy tận thiện tận mỹ thì hẳn sẽ không nghĩ tới việc thêm vào hay sửa đổi cho tốt thêm.
Khác với Nhan Hồi, Tăng Sâm lại là một mô thức khác hẳn. Ông không được khen ngợi như Nhan Hồi, nhưng cũng được Khổng tử coi là học trò giỏi và thường giảng giải cho những điều cốt yếu. Tăng Sâm không bị choáng ngợp trước thuyết của thầy, ông luôn tỏ ra chủ động nắm được điều cốt yếu, then chốt, điểm quán xuyết học thuyết của thầy. Luận ngữ còn kể lại, một lần Khổng tử nói với Tăng Sâm rằng: “ Sâm hồ, ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng Sâm chỉ khẽ “ dạ”. Khi thầy Khổng đi ra, những người khác hỏi Tăng Sâm rằng thầy vừa nói điều gì, Tăng Sâm trả lời, đạo của thầy chẳng qua chỉ là trung thứ mà thôi. Tăng Sâm đã liễu ngộ được điểm cốt yếu của đạo thầy.
Loại thái độ thứ hai: Mới được thầy truyền cho chút ít đã thấy mình cũng chẳng kém ai, cũng vĩ đại rồi, tri thức nhân loại chỉ có chút thế mà thôi, ông ấy thì chẳng có gì là lớn cả. Nếu thực tế đạo của thầy chẳng ra gì thật thì không có gì phải bàn, nhưng cũng nên bày tỏ sự tôn trọng mà tìm người khác giỏi hơn để mà học. Nguy hiểm thực sự là kẻ được học người giỏi mà không thấy thầy hay, khinh mạn cho rằng mình hơn người, hơn thầy rồi.
Thái độ cầu học và đối đãi với sở học của thầy quả là không dễ dàng gì. Sùng kính thái quá mà thấy mình nhỏ bé đi cũng không nên. Khinh mạn, tự cao mà không biết tôn trọng thầy đương nhiên là khiếm khuyết về cả đạo đức lẫn trí tuệ. Kẻ minh triết có lẽ là cần sáng suốt tự thủ, thầy dẫu thật giỏi cũng nên cố học, cố tìm cái gì còn có thể bổ khuyết để cầu tiến, thầy chưa thật giỏi thì cũng phải biết trân trọng những gì mà thầy đã tạo ra để làm thêm, để đi tiếp. Trân trọng những giá trị tri thức, tinh thần dù nhiều dù ít mà thế hệ trước tạo dựng, coi đó như nhũng viên gạch đặt nền cho ta cao thêm. Đương nhiên, làm được thế trò cũng không thể là loại xoàng, thầy cũng phải là người đáng làm thầy, đủ để dẫn dắt học trò.
Làm thầy khó, làm trò cũng chẳng dễ
(11.2011. Nhân đọc lại bài Nhan tử sở hiếu hà học luận )


[1] Xem :" Cận thư lục - Nhan tử sở hiếu hà học luận"

Posted by Nguyen Kim Son at 3:29 PM bài viết của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn Gỉảng viên Bộ môn Hán Nôm, khoa Văn học, trường Đại Học KHXH&NV.
__________________
"Tôn sư trọng đạo" vốn thói lề
Đạo học xưa rày dựng văn bia
Kim cổ suy tôn ngàn niên tuế
Nhất tự vi sư vạn sự hy.
__________________
Quản Lệnh Thổ Hào
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 22-11-2011, 09:07 PM   #187
Anh Đặng
Cao niên
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Đến từ: Xóm Cơn Tắt
Bài gửi: 2,376
Cảm ơn: 10,540
Được cảm ơn 14,074 lần trong 2,372 bài
Anh Đặng is on a distinguished road
Default

VŨ TRUNG SƠN THUỶ
(NON NƯỚC TRONG MƯA)
MỘT BÀI THƠ CỦA THI SĨ MIÊN TÔNG – VUA THIỆU TRỊ(*)

BÙI VĂN CHẤT


Hình 1 (sẽ đưa lên sau)
Trên đây là bản chữ Hán bài "Vũ trung sơn thủy" của thi sĩ Miên Tông được xếp theo hình bát quái trên bức khảm xà cừ tại điện Long An, nay là bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (H.1).
Phiên âm:
Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn
Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh
Sơn tỏa ám vân thôi trận trận
Lãng sinh khiêu ngọc địch thanh thanh
Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận
Dạng dạng ba châu liễu mậu vinh
Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn
Hướng lâm song tiễn yến phi khinh.
Dùng thể hồi văn liên hoàn, trắc bằng 4 vần, theo tác giả, bài thơ trên có thể đọc thành 64 bài thất ngôn, ngũ ngôn. Tuy nhiên chưa có vị nào đọc hơn 4 cách, mặc dù Viện bảo tàng Huế đã nhiều lần mời gọi.
Năm 1972, trên Tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, Pierre Daudin, một học giả phương Tây, đã giải ra 12 bài thất ngôn bát cú. Năm 1994, nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Tân Phong tìm ra đúng 64 cách. Năm 1998, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn tìm ra thêm 64 cách nữa, tức 128 cách trên một bài thơ.
Về cách giải, các học giả đã dày công nghiên cứu, vạch ra những đường nét chính để mọi người theo đó suy ra, đọc tiếp.
Ở bài viết này, chúng tôi xin nêu lên những cảm nhận ban đầu về một số cách đọc và từ những cách đọc ấy nhận ra nét độc đáo, vẻ kỳ bí của bài thơ, hiểu thêm thú chơi thơ trong dòng văn hóa Việt.
Bằng cách đọc ngược lại, từ dưới lên ta có thêm bài thơ đủ 4 vần trắc: Hướng, dạng, lãng, trướng; tương ứng với: Tấn, trận, nhuận, tấn và 4 vần bằng: Nhàn, sàn, san, loan; tương ứng: Thanh, thanh, vinh, khinh của bài nguyên mẫu.
Khinh phi yến tiễn song lâm hướng
Tấn dật ngư chu nhất điếu nhàn
Vinh mậu liễu châu ba dạng dạng
Nhuận tư đài giản thủy sàn sàn
Thanh thanh trích ngọc khiêu sinh lãng
Trận trận thôi vân ám tỏa san
Thanh biện ngạn tiền phong dật trướng
Tấn triều giang hạ vũ hoàn loan.
Cũng như bài “Mẹ”, các bài “Con” sau này, 8 câu thành 4 cặp, cặp nào cũng bám sát chủ đề: Non nước trong mưa.
Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn / Tấn triều giang hạ vũ hoàn loan
Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh / Thanh biện ngạn tiền thanh dật trướng
...
Ngay cả khi bớt đi hai chữ đầu hoặc hai chữ cuối, mỗi câu còn 5 chữ (từ), đọc lại thành bài thơ thể ngũ ngôn, thì, từng cặp một vẫn giữ được ý tứ chủ đề.
Liễu châu ba dạng dạng / Dạng dạng ba châu liễu
Dài giản thủy sàn sàn / Sàn sàn thủy giản đài
Hoặc:
Thủy giản đài tư nhuận / Nhuận tư đài giản thủy
Ba châu liễu mậu vinh / Vinh mậu liễu châu ba
...
Vậy là càng đọc càng tìm ra nhiều cách đọc, càng nhận ra nhiều điều thú vị. Ấy là thú chơi thơ.
Thú chơi thơ càng thú vị, hứng khởi khi được nhiều người thưởng thức, nhiều người tham gia. Việc giải nghĩa dịch thơ không ngoài ý đó.
Thế nhưng dịch sao cho sát, cho thoát đối với bất kì bài nào cũng khó. Lại càng khó đối với loại thơ đặc biệt này, bởi, còn phải dịch sao cho đảm bảo vần, nhịp, đúng câu, đúng từ, để khi áp đặt phương pháp vận hành theo cách đã dùng cho nguyên tác vẫn khớp bản dịch, nhất là những từ láy.
Ở bài thơ này, hầu như tác giả không dùng điển cố nhưng giàu hình tượng như "Vũ hạ giang triều...", "Phong tiền biện ngạn...". Lại rất giàu cảm xúc như: "Nhàn điếu nhất chu...", "Hướng lâm song tiễn...". Vậy bản dịch phải phản ánh đúng ý nghĩa và thần thái của bài thơ này.
Dưới đây xin dịch bài thơ: "Vũ trung sơn thuỷ" và một số cách đọc khác nhau:
Giải nghĩa: NON NƯỚC TRONG MƯA
1. Mưa dồn nước chảy quanh, triều sông dâng tràn ngập.
2. Trước gió, nước mênh mông bờ bến trong xanh
3. Núi mịt mù mây đùn lớp lớp, tới tấp
4. Sóng dâng lay giọt nước tiếng lanh canh
5. Lờ đờ (sàn sàn) trên suối rêu tươi nhuận
6. Sóng sánh (dạng dạng) bên cồn cỏ nước xanh
7. Nhàn một thuyền câu lúc thư thả (dật) lúc nhanh chớp (tấn)
8. Dóng hướng về rừng, đàn én dăng cánh kéo (tiễn) nhẹ nhàng bay

Bản 1. Dịch từ nguyên bản
1. Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngập
2. Lộng gió sông dào bến nước xanh
3. Non phủ kín mây tuôn tới tấp
4. Sóng khêu thưa giọt gõ lanh canh
5. Lan man suối trải rêu tươi mập
6. Sóng sánh cồn vươn cỏ tốt xanh
7. Nhàn thoáng một câu, thuyền nhẹ tắp
8. Dóng rừng dăng kéo én bay nhanh

Bản 2. Đọc ngược:
8’ Nhanh bay én kéo dăng rừng dóng
7’ Tắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhàn
…6’ 5’ 4’ 3’ đến
2’ Xanh biếc bến dào sông gió lộng
1’ Ngập dâng triều cuộn nước mưa dồn
Bản 3. Cũng từ bản 3, giữ nguyên câu, đọc ngược
8. Dăng kéo én bay nhanh
7. Một câu thuyền nhẹ tắp
… 6,5,4,5 đến
2. Sông đào bến biếc xanh
1. Nước cuộn triều dâng ngập

Bản 5. Từ bản 1, giữ nguyên câu đọc ngược.
8.Dóng rừng dăng kéo én bay nhanh
7.Nhàn thoáng một câu, thuyền nhẹ tắp
6, 5, 4, 3 đến
2. Lộng gió sông đào bến biếc xanh
1. Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngập

Bản 6. Theo bản 1 đọc ngược, đảo vế theo từng cặp: 2 – 1, 4 – 3, 6 – 5, 8 – 7
Xanh bến biếc đào sông gió lộng
Ngập triều dâng cuộn nước mưa dồn
Canh lanh gõ giọt thưa khêu sóng
Tấp tới tuôn mây kín phủ non
Xanh tốt cỏ vươn cồn sánh sóng
Mập tươi rêu trải suối man lan
Nhanh bay én khó dăng rừng dáng
Tắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhàn

Bản 7. Từ bản 6 đọc ngược lại
Nhàn thoáng một câu thuyền nhẹ tắp
Dóng rừng giăng kéo én bay nhanh

Dồn mưa nước cuộn dâng triều ngập
Bến đào sông gió lộng biếc xanh

Bản 8. Theo bản 1, đọc ngược từ chữ thứ 5, để yên 2 chữ (từ) cuối
Triều cuộn nước mưa dồn/ dâng ngập
Bến đào sông gió lộng/ biếc xanh
Tuôn mây kín phủ non/ tới tấp
Gõ giọt thưa khêu sóng/ lanh canh
Rêu trải suối lan man/ tươi mập
Cỏ vươn cồn sóng sánh/ tốt xanh
Thuyền câu một thoáng nhàn/ nhẹ tắp
Én kéo dăng rừng dóng/ bay nhanh

Bản 9. Theo bản 1, đọc dưới lên, đảo 2 chữ đầu câu cho vào cuối
Dăng kéo én bay nhanh/ rừng dóng
Một câu thuyền nhẹ tắp/ thoáng nhàn
6,5,4,3
Sông đào bến biếc xanh/gió lộng
Nước cuộn triều dâng ngập/ mưa dồn
v.v…
Cứ thế suy ra 64 bài, đọc đủ. Nhờ âm đơn của từ tiếng Việt, Hán Việt, mà ta lợi dụng tối đa lợi thế ấy, khi chọn lựa được từ thích hợp. Ấy cũng là một thú chơi thơ.
Nhân nói về thú chơi thơ, dưới đây xin giới thiệu một bài thơ theo kiểu khác (H.2)

Hình 2
1. Tương cầu tương ứng bất tương đương
2. Điền dã hứa đa thức dạ hương
3. Nhật xuất kim trì hà phú mạo
4. Nguyệt sinh ngọc bệ tất chiêu chương
5. Tảo khan thế thượng phù trầm mộng
6. Tịch kiến trần trung quý tiện vương
7. Tâm niệm bồng dinh hồ điệp kí
8. Kỳ tai ngôn ngữ tảo phong sương
Bài thơ được đọc từ thời niên thiếu, thuở học trường nhà, đã hơn 60 năm, lỗ mỗ không nhớ. Không biết tự sách nào, không rõ tên tác giả. Lớp lớn tuổi hơn, học lớp trên thời ấy kháo nhau: Thơ Tiên.
Bài này tuy không kì bí như bài "Vũ trung sơn thủy" của vua Thiệu Trị nhưng được truyền tụng trong dân gian, không kém phần độc đáo. Với 48 chữ được viết liên hoàn trên một đường tròn hay xếp theo hình bát quái (như đã thể hiện ở đầu bài viết này) đọc thành bài thơ thất ngôn bát cú. Bằng cách dùng chữ ở nửa dưới của chữ cuối câu trước làm chữ đầu của câu tiếp theo; cứ thế cho đến chữ cuối cùng của bài thơ, lấy chữ ở nửa dưới làm chữ đầu câu số 1
“Đương” chữ cuối câu thứ nhất có chứa chữ “Điền”. “Điền” chuyển sang làm chữ đầu câu thứ 2: “Điền dã…
Tương tự, “Hương” có “Nhật”: “Nhật xuất”…
“Mạo” có “Nguyệt”: “Nguyệt sinh”…
v.v…
Tới “Sương” có “Tương”: “Tương cầu tương ứng bất tương dương…”.
Quả là “Bất tương đương”. Không như những bài thơ khác có 56 con chữ mới đủ cấu thành bài thơ 7 chữ x 8 câu. Ở đây, phải chọn chữ cuối để tách ra… Gò bó thế không hề giảm ý vị nhịp vận của thơ. Hơn nữa, các cặp 3 – 4, 5 – 6 lại đối nhau rất chỉnh:
Nhật xuất – Nguyệt sinh; Phú mạo – Chiêu chương
Kim trì – Ngọc bệ; Tảo khan – Tịch kiến

Vậy mới gọi là Tiên thi – Thơ tiên
Là thơ chữ Hán nhưng hầu hết từ trong thơ đều Hán Việt hóa nên đọc lên là cảm nhận được ý thơ suy tư cõi thế, hồn thơ thấp thoáng cảnh tiên.
Chưa dám luận tới nhân sinh quan mà chỉ với tấm lòng cảm phục tài thơ, xin mạo muội được thể hiện tự dạng, phỏng dịch để giới thiệu là mong được sự chỉ giáo của các bậc đàn anh cùng bạn bè gần xa, bổ chính cho việc tái hiện và dịch thơ sao cho khỏi khiếm khuyết:
VÔ ĐỀ
Tương cầu tương ứng chẳng tương đương
Đồng ruộng cho nhiều thức dạ hương
Ngày, rực ao vàng, che giọt nắng
Đêm, ngời bệ ngọc, ngắm đài gương
Sáng, trần gian mộng cơn chìm – nổi
Tối, cọi thế quên chuyện mọn sang
Nghĩ tới bồng dinh, đời bướm gửi
Lạ thay, lời nói quét phong sương.

B. V. C

(*) Bài đã đăng tại Tạp chí Hán Nôm số 5 (84) - 2007.
của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.


Địa chỉ: Bùi Văn Chất
Số 05/04 Nguyễn Kiệm, Trường Thi
Vinh, Nghệ An
SĐT: 0383590354
SDĐ: 0973768474.
__________________
Thương chắc khi đang sôống...
Chết rồi, nói mần chi...
:60:
Anh Đặng vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 22-11-2011, 09:35 PM   #188
Anh Đặng
Cao niên
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Đến từ: Xóm Cơn Tắt
Bài gửi: 2,376
Cảm ơn: 10,540
Được cảm ơn 14,074 lần trong 2,372 bài
Anh Đặng is on a distinguished road
Smile


http://s1085.photobucket.com/albums/j428/anhdang6/


Đây là bài của bác Bùi Văn Chất nhờ gửi.
Tui nỏ thạo. Mò cả buổi, cì ảnh mới đưa lên nhưng chất lượng thì đang kém.
Khi mô tui nhờ Nhạ Bù giúp chò rọ.
Kính các bác!
__________________
Thương chắc khi đang sôống...
Chết rồi, nói mần chi...
:60:

thay đổi nội dung bởi: Anh Đặng, 22-11-2011 lúc 09:48 PM Lý do: đưa lại link ảnh
Anh Đặng vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 22-11-2011, 10:00 PM   #189
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default

Trích:
Anh Đặng đã viết View Post
VŨ TRUNG SƠN THUỶ
(NON NƯỚC TRONG MƯA)
MỘT BÀI THƠ CỦA THI SĨ MIÊN TÔNG – VUA THIỆU TRỊ(*)



BÙI VĂN CHẤT
Chiết tự Hán Nôm luận vô thường
Vô tự bất khả chiết văn chương !

PC: Chiết tự mà không nhìn mặt chữ thì bất khả !
__________________
Quản Lệnh Thổ Hào

thay đổi nội dung bởi: quanlenh, 23-11-2011 lúc 09:07 AM
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 03-12-2011, 06:41 PM   #190
Ru_noong
Thôn viên
 
Tham gia ngày: Oct 2011
Bài gửi: 29
Cảm ơn: 6
Được cảm ơn 48 lần trong 22 bài
Ru_noong is on a distinguished road
Default

@ bác Quanlenh, Anhdang

Gs Nguyễn Tài Cẩn là tác giả của cuốn: Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy. Một điều thú vị là Cố GS Nguyễn Tài Cẩn là người con của đất Thanh Văn, Thanh Chương.

Còn đây là bài của bác Bùi Văn Chất trên báo:

http://www.ngheandost.gov.vn/vnn/vu-...9c30a4524.aspx.

Bài của bác Chất có đoạn "Bằng cách đọc ngược lại, từ dưới lên, ta có thêm bài thơ đủ 4 vần trắc: hướng, dạng, lãng, trướng (tương ứng với: tấn, trận, nhuận, tấn) và 4 vần bằng: nhàn, sàn, san, loan (tương ứng: thanh, thanh, vinh, khinh) của bài nguyên mẫu."

Cháu thấy người xưa làm thơ hay theo vần bằng Bằng trắc Trắc Bằng trắc Trắc trắc Bằng Bằng trắc Trắc bằng Bằng Trắc bằng Bằng trắc Trắc Bằng gì đó. Sau này cháu có đọc một số tài liệu nói đó là quy luật trong âm dương trong ca dao, cổ thi gì gì đó.
__________________
Tôi về thăm chợ Dùng xưa
Thăm đền Bà Chúa trửa mùa ngô khoai
Ru_noong vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Trả lời

Bookmarks


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể tạo chủ đề phim
Bạn không thể gửi Trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của bạn

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 03:27 AM.


Forum hiển thị tốt nhất với trình duyệt FireFox
Xây dựng và phát triển bởi những người con đất Thanh Chương
Tcnao.net là diễn đàn phi lợi nhuận, phi chính trị
Powered by: vBulletin Copyright ©2000-2018, Jelsoft Enterprises Ltd.