Thanh Chương - Nghệ An Online

Go Back   Thanh Chương - Nghệ An Online > CUNG VĂN HÓA > Văn chương
> Văn đàn

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 20-02-2017, 08:15 AM   #1
jnguyenvan
Thảo dân
 
Tham gia ngày: Dec 2008
Bài gửi: 40
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 209 lần trong 41 bài
jnguyenvan is on a distinguished road
Default Anh Đặng - Hoài niệm - Nhân cách

ANH ĐẶNG – HOÀI NIỆM – NHÂN CÁCH

Tối qua ngồi chờ bạn ở sân ga, nhìn lên trời, trăng đầu tháng khuyết giống con thuyền, chợt nhớ cha mình hồi còn sống đêm nao cùng mình thuở bé ngắm trăng rồi đọc: “ Mồng năm liềm giật, mồng sáu thật trăng ”. Nhìn trăng, nhớ nhà, lại nhớ đến những kỷ niệm xưa của Anh Đặng viết về quê hương Thanh Chương trên facebook và một số trang mạng.


Mình không quen Anh Đặng, chưa một lần gặp ngoài đời, cũng chưa từng liên lạc điện thoại hay qua mạng internet, thế mà chẳng biết sao mỗi lần nhớ nhà, nhớ quê mình lại nhớ đến tản văn của Anh Đặng. Vì người xa quê hay nhớ quê nhà? Hay trong ngày tháng cũ của Anh Đặng có bóng dáng mình trong đó ?… Mình cũng không biết nữa.

Nhớ về quê nhà, ngoài người thân, mình học hành chẳng ra gì nhưng lại hay nhớ thầy cô, mà Anh Đặng đã từng là nhà giáo. Hình ảnh thầy cô theo dòng kỷ niệm của Anh Đặng thật gian khó, thầm lặng cống hiến và cố gắng lắm mới giữ được nghề, làm mình kính trọng hơn với thế hệ giáo viên một thuở. Mình thật thương và cảm thông, chia sẻ với thầy cô trong thời xưa cũ của Anh Đặng: “ Sắp đến đò chợ Hội, nác quẩn. Cì đói hoành hành. Thầy Tuất chỉ đạo chèo gưn vô bến. Có hai đứa bé, chừng học sinh cấp 2 đang rửa khoai lang. Thầy cất tiếng, cụng nửa Bắc, nửa Trung: Em ơi! Hai em rửa khoai à, giỏi hệnh? Em ơi! Thầy bị rơi mất cơm, cho thầy vài củ khoai ăn cho mát ruột… (!) he he…Mình bấm bụng không dám cười.Thằng bé ngoan lắm, ném ra cho thầy hai cổ. Thầy nhẹ nhàng, khẩn khoản: Cho thầy vài củ nựa em? Nó ném tiếp hai cổ” (CHẠY BÈ CỦI TẾT).

Có ai hiểu cho hoàn cảnh người thầy trông bề ngoài lịch thiệp, ăn trắng, mặc trơn mà lại thế này: “ Sáng 30 Tết, tui lóc cóc xe đạp 18 cây số. Sau xe là cì bánh chưng. Một khoanh dò. Còn nựa đến trường có gạo, dưa… Trưa, cắt bánh ăn, chộ bánh nếp, mới nhớ ra: Nhà tui có 2 loại bánh: Một loại bánh thường, một loại độn sắn ruôi. Mẹ tui đạ “bí mật” đổi cì bánh vô trong cì bao sau xe. Sau về, tui trách. Mẹ nói: Con đi ra, không chi cụng là thầy giáo, lợ ai chộ, tội con ”( TRỰC TẾT NĂM 1981). Và đây có phải là thầy giáo nữa không: “ Sáng dạy, chiều chủ yếu đi cày, chăm rau, độ, sắn,…túi đi bắt soi ” (NHỚ CHUYẾN XE “VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU” ), hay là: “ Dạy học ở Thanh Lĩnh, nhờ có mấy bạn quen Ngoại thương, cả tháng cứ buổi tối là bóc lạc. Chủ nhật không về ” (BÓC LẠC THUÊ ).

Thầy cô còn trẻ, giờ làm ở Phòng Giáo dục có khi cười khẩy, không tin khi đọc đoạn này: “ Năm 1985, thầy Thanh Phúc cùng mần với tui ở phòng Giáo dục, cụng nghèo nhưng hay nhởi, với lại lạo hay đì bán thuốc trên chợ Dùng (!) thầt tội, phị sắm cì cat set để mở chò khách nghe” (ĐÀI CASETE).

Mình thật khó quên hình ảnh bi hài của người thầy trong (MỘT LẦN BÁN CÁ). Và đây, thương và xót xa quá với đời sống giáo viên thời ấy, đọc rớt nước mắt: “ Dùng dằng mại… Giáo Thứ nói thân tình: Bán xe cho ung, như gả đứa con gấy ngoan về nhà tử tế, ung đừng nghị chi nựa cả(!). Rứa là “quyết” lấy xe giáo Thứ với giá 300 đồng. Tội là sau đận ấy, giáo Thứ cụng bỏ nghề ” (MUA XE ĐẠP ĐẦU TIÊN). Giáo Thứ của Nam Cao phiên bản mới chăng !

Thế hệ giáo viên của Anh Đặng tâm huyết, giỏi nghề, đi lên từ gian khó, tiêu biểu cho lớp nhà giáo “ kinh điển ”, một thế hệ thầy cô nghèo khó nhưng tự trọng.
Hình ảnh tình đồng đội, đồng nghiệp qua tản văn Anh Đặng thật quý mến, trân trọng, khi làm mình thấy quá thương: “ Tội là nhà anh ấy rất túng quẫn: Một vợ, 2 con, mới ở riêng, đói thiếu. Anh ấy chỉ có một cì áo màu vàng, một cì quần dệt kim mận chín. Khi cần phị tìm thời điểm thích hợp để giặt, phơi và sử dụng ngay ”( MUA XE ĐẠP ĐẦU TIÊN), lúc lại thấy sẻ chia cho nhau: “Anh Lương, đảng viên mới, trực mùng 1.Tui con thứ, chưa có vợ, lại “đối tượng sắp kết nạp” nên trực 30 Tết và giao thừa. Ai neo người, ngái quá thì được miện… Thống nhất giao ca vô 8 giờ sáng hàng ngày ”( TRỰC TẾT NĂM 1981), hay thấy ấm lòng với: “ Dạy học ở Hạnh Lâm, buổi túi mấy anh em hay dạm chắc đi bắt soi ” và đây “ Cô Liên – một đồng nghiệp, nói vưa đủ nghe: Khi sớm, thầy … gửi 8 giống. Đang lưa hai giống nỏ bán được. Họ chê ươn a rồi thầy ạ! Tui nhận lại “ hai giống cá” vừa tức cười, vừa ngao ngán” (MỘT LẦN BÁN CÁ). Vì đồng nghiệp nghèo đều, cho nên: “Bạn bè quý nhau, nếu kỷ niệm cái xích xe đạp thì nhắc đến mấy năm và nhớ suốt đời. Đương nhiên, lúc đó tầm bọn mình thì không bao giờ có những bạn như vậy ” (TRỞ XÍCH XE ĐẠP).

Đồng đội, đồng nghiệp của thời Anh Đặng sống trong nghèo khó nhưng thật tử tế, chân thành, nghĩa hiệp.

Chỉ mấy dòng, Anh Đặng làm mình nhớ đến tình thầy trò năm nào thật đáng quý, giữa thời nay dễ gì có được: “ Buổi chiều, thằng Lê Đình Bửu, lùn tịt, từ bên Lâm Thịnh lội sông, ướt lót ngót sang. Nó có gói xôi xéo khoai bị, một bó chè tươi đưa đến biếu thầy. Tui cảm động và thương nó quá - “Quyết định”: Thôi, cho các em về mà ăn Tết, nỏ phị trực mô. Nó hỏi: Túi thầy ngủ chắc không hại à? ”( TRỰC TẾT NĂM 1981).

Tình cảm học sinh thời ấy thật vô tư, hồn nhiên. Pha chút trào lộng, Anh Đặng đã dựng lại hình ảnh học sinh vô tình gặp thầy giáo đi mua lương thực năm nào: “ Không có chi đợng. Thầy có sáng kiến: Cổi quần dài, đổ mì vô, cột lại, bặn ngang ghi đông… Khổ cái là có mấy đứa học trò “nỏ biết điều” vẩn chào, mần thầy rầy.” (MUA LƯƠNG THỰC).
Thời nay mình thấy quan chức ngày càng xa dân, truyền thông đưa một số hình ảnh quan chức “ về với dân ”, mình thấy diễn nhiều hơn là thực. Anh Đặng lại khác, quan tâm đến dân thực lòng, nhân văn. Mình thấy Anh Đặng nhiều lần tự mình hoặc kêu gọi nhiều người cùng chung tay làm công tác thiện nguyện. Nhiều lần Anh Đặng làm từ thiện trong: (BÀ THÌN CÁT VĂN ĐÃ MẤT ), (CỤ BÀ), (XÓT XA CẢNH CỤ BÀ 82 TUỔI NEO ĐƠN, NGHÈO KHÓ ), ( KÊU GỌI GIÚP GIA ĐÌNH ANH THẢO, CHỊ HỢI - XÓM 11 THANH HÀ), (GỬI CÁC NHÀ HẢO TÂM),…
Có năng lực, tâm huyết và cống hiến thế nào mình thực không rõ lắm, nhưng mình tin Anh Đặng là “ cán bộ nhưng mà tốt ” không thuộc lớp cai trị với tư duy “ phân lô bán nền ” và “ hốt hết, không nói nhiều ” hay “ ăn của dân không từ một cái gì ”.

Là quan chức nhưng lại là người của xóm làng, là người của văn nhưng văn để viết về con người, để người sống chan hòa, tình cảm với người hơn, tản văn của Anh Đặng là thế.

Đọc ngày tháng cũ của Anh Đặng, người xa quê cảm thấy cố hương như thật gần vì Anh Đặng dùng từ, ngữ địa phương Thanh Chương thật phong phú, như lời ăn, tiếng nói thuở nào của cha, mẹ, xóm làng: “ Cì, đạ chộ, rọng trết, bắt dam, đi hòc, lạo ta, con ngài, chộông, cạu, giành, tý mói, nạm lộc thơm,…”. Những từ, ngữ dường như chỉ có dân Cát Ngạn mới hiểu. Với kỷ niệm xưa của Anh Đặng, mình thấy như đang chuyện trò với người một người Thanh Chương “ xịn ” trước mặt, nói từ gì cũng thích dùng dấu huyền và phát âm dài: “ đi hòc ”, “ cì mằt ”, “ trùc ló ”, “ bì tui ”, “ lồ ngô ”, “ mấy chùc ”, " đầp hộp ", …

Không phải để sáng tác, viết văn, Anh Đặng viết, để chia sẻ với những người con Thanh Chương với lối kể gần gũi, đậm tình quê, tình người. Những kỷ niệm xưa của Anh Đặng như đoạn phim quay chậm đưa ta về với ngày tháng cũ.
Chẳng cần thủ pháp hay nghệ thuật gì, với những dòng ký ức của Anh Đặng, người đọc có cảm tưởng như câu chuyện thủ thỉ, tâm tình bên bát chè xanh, dễ đi vào lòng người, hơn vạn lần giáo huấn, tuyên truyền của “ xã luận ”. Một làng quê, hình ảnh bà mẹ, ông giáo,… giống như bao làng quê, bà mẹ, nhiều ông giáo của vùng quê khác của “ đất Thanh Chương nhút mặn, chua cà ”. Anh Đặng đã làm người đọc đồng cảm và chia sẻ với quê nhà.

Nhiều người cũng viết về vùng quê, những ngày tháng cũ như Anh Đặng nhưng vùng quê, những ngày tháng cũ của Anh Đặng rất gần gũi mà lại rất riêng với lối kể, ngôn ngữ không lẫn lộn với ai khác.

Đọc Anh Đặng như bước vào phòng triển lãm về Thanh Chương một thuở, với bao khuôn mặt, hình ảnh thật gần và thấy cả mình trong đó.
Với những kỷ niệm xưa của Anh Đặng, đầy đủ cung bậc cảm xúc, khi thì nhớ thương, sâu lắng, lúc thì hài hước, trào lộng. Chuyện nào cũng lôi cuốn người đọc, mình khó dừng nửa chừng mỗi lần đọc tản văn Anh Đặng.
Giá như trong những kỷ niệm xưa cũ, Anh Đặng có thêm những chuyện tình đôi lứa của lớp trẻ Cát Ngạn năm nao hay thay đổi một số từ, ngữ địa phương để người đọc rộng rãi có thể hiểu thì sẽ trọn vẹn hơn. Nhưng chừng đó cũng đủ cho một cuộc triển lãm “ Thanh Chương, đất và người thời bao cấp ” không kém phần thú vị, hấp dẫn.

Ps. Vì chỉ cho giới hạn mỗi lần gửi bài dưới 10 000 từ, bài lại hơi dài, mình phải gửi nhiều lần.

thay đổi nội dung bởi: duaconxunghe, 28-02-2017 lúc 09:23 AM Lý do: Sửa lỗi chính tả theo yêu cầu của tác giả JNguyenvan!
jnguyenvan vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 20-02-2017, 08:22 AM   #2
jnguyenvan
Thảo dân
 
Tham gia ngày: Dec 2008
Bài gửi: 40
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 209 lần trong 41 bài
jnguyenvan is on a distinguished road
Default Anh Đặng - Hoài niệm - Nhân cách ( phần 1 )

ANH ĐẶNG – HOÀI NIỆM – NHÂN CÁCH
( tiếp theo phần 1 )

Qua những kỷ niệm xưa của Anh Đặng, có chuyện cứ tưởng như viết về mình tôi: “ Quá buổi, chưa chộ mẹ về thì cứ theo hướng chợ mà đi đón chò khỏi nóng rọt. Trong hàng chục người đi về, đứa mô cụng giỏi trong chuyện nhận ra mẹ mình. Thường thì mẹ chỉ bưng cì mẹt hoặc đội cì rổ, đậy cì mẹt bên trên” ( NGÓNG MẸ ĐI CHỢ ), mình như tìm lại được “ vời vợi tuổi thơ ” đã mất. Hay đoạn này mình cứ tưởng Anh Đặng kể về bà Chắt hàng xóm nhà mình vậy: “ Mới đây, có mấy chị choai choai buôn bán thường khen dì bán may và nhờ dì tôi bán trứng gà, trứng vịt...Mỗi lần họ gửi chỉ vài chục quả là cùng và dặn dì nói là của nhà, bán xong, họ lại gửi tiếp ” (THƯƠNG HIỆU DÌ TÔI ). Còn chỗ này sao mà giống anh Cu ở làng mình đến thế: “ Tức cười là có chú bạn, vác một khoanh thép trần, định ra nối vô đàng điện để kéo vô nhà… May mà có ngài bày cho: phị mắc trong nhà mô vô đó rồi thì mì nối vô nhà. Nếu không chưa biết chuyện chi xẩy ra?” (ĐIỆN VỀ LÀNG).
Các bạn sinh viên tìm đề tài về văn hóa Thanh Chương làm để làm luận thì tìm chi cho mệt, cứ đến với tản văn của Anh Đặng - kho đề tài là đây chứ đâu nữa “ Phương ngữ trong tản văn Anh Đặng ”, “ Bi hài đời dạy học thời bao cấp ”, “ Anh Đặng - Hình ảnh người thầy của ngày tháng cũ ”, “ Đói xưa - nỗi ám ảnh của nhà giáo ” hay “ Đất quê, lề thói Cát Ngạn ”,…Mình nghĩ cũng chẳng quá lời khi gọi Anh Đặng là “ Nhà Thanh Chương học ”.

Với Anh Đặng đề tài dường như vô tận, mình nghĩ còn nhiều chuyện Anh Đặng không thích kể hoặc chưa có dịp kể. Mình luôn mong một ngày về quê, được mời Anh Đặng đi uống chè xanh và ngồi hóng chuyện.

Đọc Anh Đặng có khi mình cứ tưởng đang đọc về cái đói trong văn của Nam Cao hồi trước, niềm thương nhớ, luyến tiếc trong tùy bút của Vũ Bằng, hay đang đọc về làng quê, tuổi thơ giai đoạn sau này của Nguyễn Quang Lập.

Các cụ xưa nhìn người thật thấu đáo, thấy mình học hành bữa đực, bữa cái, chân tay khẳng khiu “ trục cúi mắt dang, chưn the điếu ”, mẹ mình chép miệng, thở dài: “ Mi rồi cũng chẳng nên cơm cháo gì !”. Chẳng biết là số phận hay lời nguyền của mẹ, đến giờ mình chưa “ quá nửa đời phiêu bạt ”, sống tha phương, chẳng biết ngày trở lại. Tương lai mịt mờ, chỉ biết mong về thăm quê để được ăn bánh mướt chợ Vịnh, tiết canh dê chợ Dùng và ăn lòng lợn chợ Phuống. Xa quê, nhớ nhà quay quắt, muốn viết đôi dòng về cố hương nhưng đành chịu, ước gì mình được một chút tài hoa và tâm hồn như Anh Đặng.

Hình ảnh làng quê nghèo Thanh Chương theo dòng ký ức của Anh Đặng là bức tranh quê muôn màu, bình dị nhưng thật đẹp. Ngược dòng thời gian, Anh Đặng đã cho mình được sống lại hình ảnh của làng quê một thuở: “ Mội mùa đông đến, lại nhớ tiếng che uể oải, kẽo kẹt, nhớ mùi mầt thơm lựng cả làng quê. ” ( KÉO CHE ). Phong cảnh quê hương trong: ( ĐÀO QUÊ ), (TRĂNG QUÊ), (NHỚ MÙA RAU CẢI ), ( BẮT DẾ),… thật êm đềm, thanh bình quá. Hình ảnh quê hương yêu thương, làm ta nhớ mãi: “ Lâu lắm rồi, hôm nay, nghe tiếng xắc xắc kêu, tôi thấy nhớ mẹ, nhớ bà da diết. Tôi không ra bắt. Cũng không có đứa trẻ nào thèm bắt nó. Tôi nằm nghe nó khắc khoải, liên hồi. Tôi lại hy vọng: Ngày mai trời nắng? ” (CON XẮC XẮC).

Có khi đọc xong, mình ngồi lặng, khắc khoải với: (TRĂNG QUÊ), ( ĐI GIỖ ), (ĐÀI CASETE ), (RẦP DƠI), (NHỚ TRANH TÓOC), (ĐẦP ĐẤT), ( KÉO CHE ) (TRỤC LÓ), (NHỚ TIẾNG TRỐNG TUỒNG), (NHỚ ĐÁM CƯỚI QUÊ),…

Anh Đặng cũng làm mình bồi hồi như được về với tết xưa thật thiêng liêng, ấm cúng trong: (CÚNG TẤT NIÊN), (TRỰC TẾT NĂM 1981), (HÀNG TẾT), (TẾT ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO), ( CƠM TẤT NIÊN), (ĐÀO QUÊ), (CUỐN HƯƠNG),…

Những dòng viết về quê của Anh Đặng làm mình bất chợt nhớ đến câu hát của Hồ Hữu Thới: “ Thương nhau xin nhớ đừng quên. Đi xa tới những chân trời. Mà người đi xa câu dân ca bát ngát nhớ thương thêm gần. Lời hẹn hò đêm trăng,…”.
Đọc tản văn Anh Đặng, làm mình càng yêu quê, nhớ nhà và ấm lòng hơn vì quê hương tuy xa nhưng lại cảm thấy như thật gần.

Mình rất thích Anh Đặng viết về tuổi thơ. Qua Anh Đặng, mình như tìm lại được tuổi thơ đánh mất, những chuyện kể về thời thơ ấu của Anh Đặng được nhìn qua con mắt con trẻ trong trẻo, hồn nhiên, tinh nghịch trong: ( ĐI TRU PHIÊN), (NGÀY ĐẦU TIÊN ĐI HỌC), ( BẠN Ở QUÊ), ( BẮT DẾ), ( GIỮ EM ), (NHỚ CON TÒ HE CHỢ TẾT), …Cảm ơn Anh Đặng đã đưa mình về với: “ Vời vợi tuổi thơ một xu đánh đa vừng ”: “ Quá buổi, chưa chộ mẹ về thì cứ theo hướng chợ mà đi đón chò khỏi nóng rọt. Trong hàng chục người đi về, đứa mô cụng giỏi trong chuyện nhận ra mẹ mình. Thường thì mẹ chỉ bưng cì mẹt hoặc đội cì rổ, đậy cì mẹt bên trên” (NGÓNG MẸ ĐI CHỢ),…

Anh Đặng làm mình ngạc nhiên, thú vị vì đây là mình: “ Mấy đứa học trò 7C đến trực Tết, bắn súng diêm inh ỏi. Hai con chó chạy sủa loăng quăng. Phải nói các cháu ra xa, tội hai con chó ”( TRỰC TẾT NĂM 1981), và đây cũng là mình: “ Trời rét. Bọn bì tui đốt đuốc, đi cả làng, bắn pháo diêm, trêu chó.
” (NGHE ĐÀI).

Trẻ em ngày xưa, thời của Anh Đặng cũng đói rách, gian khó khác gì cha mẹ chúng: “ Bựa tất niên, bọn tui thường không dòm ngó chi cơm, cứ xôi mà chén. Răng thời đó ai cụng ham xôi? Mà thời đó có nhiều loại nếp vừa thơm, vừa dẻo, ngon lắm. Thay vì múm từng tí thịt vừa đủ mặn, khi miếng thịt cắn dần còn một nửa, Cha cho phép: Thôi,lốm cả ”( CƠM TẤT NIÊN), hay món ngon làm ta nhớ mãi: “ Nắm xôi được chia ra mấy anh em, mội đứa một vắt như trấy cau, lại xé nhỏ như hột lạc, ăn dè, chấm nước mắm là sung sướng lắm” (ĐI GIỖ).

Đọc về tuổi thơ gian khó ngày trước, để bây giờ ta thấy trẻ nhỏ thực sự quá sung sướng: “ Bây giờ mẹ bưng bát đi trước, hát, múa, dạm thổ. Cha đi sau nịnh, dọa. Con nhủ mần chó là mần chó, mần mèo là mần mèo; nó múm cho một thìa là cả nhà khen ngoan, hoan hô,... Có bác quỳ mần tru cho con cợi, một bác đút cháo… Bé "nể" quá ngậm như 15 phút nỏ chịu nuốt... Ông, bà, cha mẹ đều nói ngọng theo con cháu” ( GIỮ EM ).

Lớp trẻ ngày nay đến với Anh Đặng để biết về một vùng quê nghèo khó nhưng có những con người tài hoa: “ Từ thuở học trò, dù chưa được gặp nhưng chúng tôi rất tự hào là quê mình có ông Nguyễn Bùi Vợi, tác giả của bài thơ Qua Thậm Thình được in trong sách giáo khoa ”( Nguyễn Bùi Vợi - Nhân cách một người Nghệ ), hay viết về “ ông sông quê”: “ Có lẹ chưa có ai viết về cì hình ảnh ni hay như bác Lê Huy Mậu ta cả ” ( NGÓNG MẸ ĐI CHỢ).

Nguyễn Bùi Vợi hay Lê Huy Mậu thì giới văn nghệ cả nước biết, ở quê nhà Thanh Chương những người dân tay cuốc, tay cày cũng là nghệ sỹ như ai “ Tui nhớ cố Liệu (Toàn), vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên, vừa cầm trống cái ” và: “ Chúng tôi rất ngưỡng mộ, kính trọng những diễn viên nghiệp dư, gắn với những vai tuồng họ đóng: Bác Tâm – Trưng Trắc; bác Lục – Trưng Nhị; Ông Xuân – Thi Sách; Ông Thành, ông Thế - Tô Định,… họ gắn với những hiểu biết non nớt về tuồng của tuổi thơ chúng tôi ” (NHỚ TIẾNG TRỐNG TUỒNG).

Mình nghĩ giáo Thứ – một thời đồng nghiệp của Anh Đặng, hay Anh Đặng cũng thật tài hoa: “ Vô Sư phạm, là “chuyên gia” vẹ hoa, viết trự để thêu gối cho bọn con gấy. Tự nhiên được người ta cho là “có hoa tay ” ( VẸ TRỰ THỌ), hay: “ Làng xóm tui vùng bại bồi, nỏ biết chi chuyện cuốn hương ” thế mà Anh Đặng đã có: “ Một "mùa hương Tết" cụng vưa trang trải cho cái Tết chắt lót, đạm bạc ” và biết đâu một mai khi: “ Về hưu, không khéo phị khôi phục lại nghề cuốn hương, câu đối, trự thọ, tham gia hội bát âm ”( CUỐN HƯƠNG ).

Ps. Vì chỉ cho giới hạn mỗi lần gửi bài dưới 10 000 từ, bài lại hơi dài, mình phải gửi nhiều lần.
jnguyenvan vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 20-02-2017, 08:28 AM   #3
jnguyenvan
Thảo dân
 
Tham gia ngày: Dec 2008
Bài gửi: 40
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 209 lần trong 41 bài
jnguyenvan is on a distinguished road
Default Anh Đặng - Hoài niệm - Nhân cách ( phần 1 )

ANH ĐẶNG – HOÀI NIỆM – NHÂN CÁCH
( tiếp theo phần 2 )

Xuyên suốt hồi tưởng của Anh Đặng mình luôn thấy vui, hài hước: “ Bớt lả, hầm vài chục phút, tui mần cì cặp tre nhích dần cì van. Vợ mum: Mần như thật, chi mà mau rứa được… Tui thì cứ “tin theo khoa học” (!), thử! Xì, xì…phát hoảng ” ( NỒI ÁP SUẤT ). Mình phì cười với đoạn: “ Nhớ mại, chuyện hai anh em nhà nọ, cụng đi mua xi măng. Ông anh lo kéo lên độông đứt hơi, thằng em dòm sang cột số bên đàng, chộ cì chự QL7, hỏi: Anh hịnh, năng cột mô cụng viết QL7? Ông anh ngán trong ngài, nói: QL7 là “quẹt l. 7”, hỏi cứt chi, lo đẩy đi! He he. (Rứa mà sau ni anh nớ mần quan to)!” và “Đấy, ẻ xong là “xuất bến”! Lại anh em thay chắc mần tru”( ĐI MUA XI MĂNG), hay cười ngất khi đọc: “ Có bựa gằp thằng ác, hần cột chùm gây mây, quăng cấy "vù". Tưởng là dơi, bọn tui vội úp, hạ xuống. Biết gây mây thì chỉ có về. Mai khở cả buổi. Tức thầt!” ( RẦP DƠI).

Có khi đọc xong, cười nhưng sống mũi lại cay cay: “ Năm 1997, bắt cả thằng con đang học cấp 2, phụ việc. Sáng 30 Tết, hắn hỏi: Bố, tù trại 6 Tết hắn có cho về ăn Tết không hịnh? Nghe tội quá, phị cho hắn đi nhởi. Túi 30 vẩn phị mần. Lạo lại nói: Bố, cả xóm đi nhởi, họ cự đàng hoàng. Bố bựa mô cụng thức khuya mà quần đùi vẩn lủng đít?” ( VẼ CHỮ THỌ). Và đây, đọc là mình cũng dở khóc, dở cười: “ Sự cố xẩy ra: Bánh trước bẹp! Nguy nan là nổ cả lốp, cả xăm. Tệ nhứt là xăm, lốp không nằm trong vành mà lại xệ ra, kẹt cứng vô hai cặp giò trước, không đẩy đi được. Khoảng 5 cây số nựa mới đến nhà. Ngồi nghị cách chi? Dọc đàng nỏ có nhà ai. Nỏ lẹ lại tăng bo xe với sắn? Bất đắc dị, cổi cì khăn dù quàng cổ ra, buộc vô ghi đông, treo vô trửa cổ để nổi bánh trước, đẩy đi. Đàng sau hắn cứ vắt vẻo, mất thăng bằng. Cì chưn cụng nỏ bước được thoải mái, trước mắc lốp, sau mắc pê đan. Khoảng dăm chục mét phị nghỉ một lượt… Dừ nghị lại: Cò lẹ tra tấn tù nhân cụng chưa thằng mô nghị ra cì trò ra ri! He he… Cụng may là trời túi, nỏ ai chộ thầy bị trời đày! He he…

Khoảng 11 giờ đêm, đến cổng. Để xe đó, chạy vô. Cả nhà dậy. Nghe kể lại, ai cụng dở khóc, dở cười. Khóc vì thương tui. Cười vì tình huống trớ trêu ” (NHỚ CHUYẾN XE “VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU” ).

Lúc thì pha chút châm biếm: “ Có thầy giáo cấp 3, dạy hết tiết 2, về ngang qua cựa hàng lương thực, chộ bán ½ gấu, ½ mì sợi, phấn khởi quá, mua ngay. Không có chi đợng. Thầy có sáng kiến: Cổi quần dài, đổ mì vô, cột lại, bặn ngang ghi đông… Khổ cái là có mấy đứa học trò “nỏ biết điều” vẩn chào, mần thầy rầy.” ( MUA LƯƠNG THỰC ).

Bây giờ mình thấy quan chức bình thường chứ chưa nói đến những người có vị trí cao trong xã hội như Anh Đặng lại tự trào lộng, châm biếm mình: “ một mình ngồi trong khu nội trú hoang lạnh giữa bãi Vân Đình... Hai con chó được ăn no, lim dim nằm sưởi nhìn chủ của nó như động viên: Anh giáo yên tâm, có chúng tôi bên cạnh ” (TRỰC TẾT NĂM 1981), hay “ trong hàng Tết có “khô dầu”. Đó là bạ lạc sau khi ép dầu cụng được chia. “Nguyên tắc” thì của lợn, nhưng có nhiều nhà cho biết ăn ngon lắm! Người ta bày cho chắc: Rang lên, ăn thơm, ngon lắm. Lại có chuyện tán vụn ra mần kiểu bác trớng, ăn với cơm cụng ngon. Rứa là cả làng ăn khô dầu, lợn mất phần” ( HÀNG TẾT),..

Với ký ức của mình, Anh Đặng đã cho người đọc tìm được niềm vui, sảng khoái, yêu đời hơn trong thời buổi thị phi, đầy bon chen này.

Không chỉ tạo niềm vui, nụ cười, lớp trẻ ngày nay biết, hiểu hơn phong tục, lễ nghĩa quê mình qua tản văn Anh Đặng: ( TẢO MỘ ), ( ĐI GIỖ ), (CÚNG TẤT NIÊN), (CƠM TẤT NIÊN), (TẾT ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO), (ĐI GIỖ),…

Mình học được được nhiều điều khi đọc Anh Đặng: “ Cha mẹ khi mô cũng dặn: "Ăn coi nồi, ngồi coi hướng", ăn phải nhớ đến phần người khác ” ( ĐI GIỖ ), “ Số răng nơm được tính "mương-chày-may-tủi": Kết thúc khi đếm răng nơm phải trúng vô "chày" hoặc "may". Còn gặp "mương" hay "tủi" thì phải điều chỉnh! Vót, bện nơm cũng phải coi ngay: Chọn ngay tốt. Khi vót, bện, kiêng không cho phụ nự bước qua, sau xui không được cá ” và “ Bựa mô mà mới xuống đạ được chút cá rô thì coi như bựa nớ khó mà được nhiều. Kiêng lắm!” (NƠM CÁ).
“ 5X thì biết “Năm 80, gạo cũng 80, dân xứ Nghệ, mặt vàng như nghệ”! Đã là 5X thì thấm được “nghèo khó là trường học của đời, phú quí là cạm bẫy của đời, hoạn nạn là roi vọt của đời”, “tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình”, “ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao””. (5X!).

“ “Trâu năm sáu tuổi còn nhanh/ Bò năm sáu tuổi đã tranh về già”; “Mua trâu coi vó, mua chó coi chân”; “Mồm gàu dai, tai lá mít, đít lồng bàn”; “Mắt bánh rán, đầu thanh cao, rào thấp hậu, không tậu thì dại”; “Cao vây, dậy tiền, sâu vai, khai hậu”; “Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày”; “Trâu cổ cò, bò cổ vại”; “Trán bánh chưng/ Lưng tôm càng”; “Vành mồm trắng, mắt tai to/ Hễ thưa lông bụng, móng hài cũng mua” “Chùng đùi, thắt quản, ngắn đuôi/ Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi”” (CON TRÂU ).

Những người xã quê như mình thích thú khi đọc Anh Đặng, vì như cho mình sống với lại hình ảnh quê hương bốn mùa, Xuân sang thật đẹp: “ Cái đẹp của đào phai giản dị, quê mùa mà kiêu sa, nõn nà” (ĐÀO QUÊ), mùa Hạ cháy da với: “ Trời nắng, dặm dài thăm thẳm, hai cì chưn như chưn của ai, cứ bải, bải, trông cho đến chộ có bóng râm cho đợ rát da”( ĐI MUA XI MĂNG), Thu đến là: “ mùa lụt, nước băng lên giận dữ, đàng choẹt loét ” (ĐI ĐÒ), mình thấy rét run với Đông về trong: (NHỚ TRANH TÓOC), (BẮT CÁ GIÁ), hay không khí chiều cuối năm của con trẻ “ Chỉ chờ tắm xong, khoác bộ quần áo mới đang thơm mùi vải, chạy vù đi
” (TẮM TẤT NIÊN).

Có lúc Anh Đặng lại làm mình như sống lại với mùa mưa bão với lụt lịch sử năm 78 hay năm 88: “ Lụt vô, cả làng ồn ào, náo động. Gà, ngan bắt vô bu, treo cao. Lợn bỏ lên bè chuối. Bốc bùn lên chạn, mần chộ nấu. Muối, gạo, nhút, nước sạch, bình vôi,... cho lên chạn... Bà già ngồi lui hui nấu. Trẻ con nhảy nhót, ồn ào. Người lớn quát tháo ầm ĩ,...” ( CHẠY LỤT ).

Nên thơ và thanh bình quá với: “ Những đêm giữa tháng, chúng tôi chơi rất khuya, như để tranh thủ món quà thiên nhiên ban tặng... Có đêm tan cuộc chơi, về nhà nhưng trăng vẫn vằng vặc, chúng tôi tần ngần luyến tiếc ánh trăng. Nằm ngủ vẫn nhìn qua song cửa sổ, tiếc trăng sáng!Những bữa trăng muộn, dậy sớm học bài, chúng tôi lại ra ngắm trăng.”( TRĂNG QUÊ).

Đọc Anh Đặng, ta như trở về với kho tàng ca dao, thành ngữ, tục ngữ. Nhiều câu giờ mình đã quên và có câu nhờ Anh Đặng giờ mình mới biết: “ Đầu mùa, các Mẹ còn dặn nhau: "Rau re, chè gấp"”( NHỚ MÙA RAU CẢI ), “ Các cụ có câu: Bọ rầy tháng ba, dế sa tháng tám" ( BẮT DẾ), “Hai mươi: Giấc tốt/ Hăm mốt: Nửa đêm”(TRĂNG QUÊ), “ Các cố dặn: "Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” ” (ĐI ĐÒ). “ đói sạch, rách thơm ”( MUA XE ĐẠP ĐẦU TIÊN), “ Chuối ngoảnh ra, ga chầu vô ”, “ nam tả, nự hựu ” ( CƠM TẤT NIÊN ), “ Các cụ nói: Trộ đấy sẩy chuyến đò là rứa”( ĐI ĐÒ),…

Thời gian, cuộc sống biến đổi, lớp trẻ hôm nay mấy ai còn thuộc nhiều ca dao, hò, vè,.. .như Anh Đặng. Nghe nói ở quê nhà, nhiều phụ nữ giờ “ ru con ” bằng …đĩa nhạc.

Đến với những kỷ niệm xưa của Anh Đặng, lớp trẻ mới biết ngày xưa, ở quê mình đã có những công việc, trò chơi, sinh hoạt nay không còn nữa như: ( MUA LƯƠNG THỰC), ( BẮT CÁ GIÁ ), (CHẠY BÈ CỦI TẾT), (MẦN PIN MÓI), (SÚNG DIÊM), (NHỚ TRANH TÓOC) , (ĐẦP ĐẤT), (BÓC LẠC THUÊ), (LẰT LẠC XÓI), (TRỤC LÓ),…Hoặc vẫn còn nhưng đã mai một, biến tấu (VIẾT THƯ ), ( ĐI ĐÒ), (RẦP DƠI), (NƠM CÁ), (COI PHIM), (TẮM TẤT NIÊN), … hay khắc khoải với: (NHỚ TIẾNG TRỐNG TUỒNG),…

Kể lại một thời khốn khó nhưng lại đầy tình yêu thương, đùm bọc nhau, lớp trẻ thời nay không biết, nói cũng không hiểu: ( KHOAI LANG XÉO ), ( CHẠY BÈ CỦI TẾT), (MẦN PIN MÓI), ( NGHE ĐÀI), (BÓC LẠC THUÊ) (LẰT LẠC XÓI), (TRỞ XÍCH XE ĐẠP), …Đọc Anh Đặng, làm mình rùng mình nhớ cái đói mùa lạnh mà toát mồ hôi của nhà mình năm nào: “ Mùa đông năm 1979, Cha viết “tâm thư” cho ông Huấn. Đại ý là chộ bạn bè, tình cảm, ông giúp tui bán chịu cho một ít sắn loại không say, để nguyên cả vạt, chủ nhật, anh em tui lên đào về để cứu đói. Nể tình, ông ấy cũng để cho mấy vồng chứ không được nhiều” (NHỚ TẾT NGHÈO NĂM ẤY).

Nhớ quê, thương mẹ khi: “ Nhiều khi nằm chưa ngủ, nhớ chuyện nhác xay ló, đâm gấu, nghĩ đến chuyện mẹ mình lo ra Tết không có chi mà đâm xay nghe cay mắt ” ( XAY LÓ - ĐÂM GẤU ).

Ps. Vì chỉ cho giới hạn mỗi lần gửi bài dưới 10 000 từ, bài lại hơi dài, mình phải gửi nhiều lần.
jnguyenvan vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 20-02-2017, 08:30 AM   #4
jnguyenvan
Thảo dân
 
Tham gia ngày: Dec 2008
Bài gửi: 40
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 209 lần trong 41 bài
jnguyenvan is on a distinguished road
Default Anh Đặng - Hoài niệm - Nhân cách ( phần 1 )

ANH ĐẶNG – HOÀI NIỆM – NHÂN CÁCH
( tiếp theo phần 3 )

Anh Đặng cũng giống mình, mùa rét đến là: “ Nhớ lại một thời chớm rét là đan tranh tóoc. Lại ngậm ngùi thương nhớ nhựng thế hệ người quê kham khổ rét mướt, suốt cuộc đời nỏ biết cì chăn bông!” (NHỚ TRANH TÓOC),
Anh Đặng trăn trở với thời cuộc đã làm đổi, mai một đi một lớp người tử tế, đọc xong thấy cay mắt và thoáng buồn: “ Mới đây, có mấy chị choai choai buôn bán thường khen dì bán may và nhờ dì tôi bán trứng gà, trứng vịt...Mỗi lần họ gửi chỉ vài chục quả là cùng và dặn dì nói là của nhà, bán xong, họ lại gửi tiếp. Có bữa, xong buổi chợ, dì đã bán cho họ cả trăm quả trứng!”( THƯƠNG HIỆU DÌ TÔI). Đời dâu bể, đổi thay qua từ trang của Anh Đặng trong: ( ĐI ĐÒ), (NHỚ TRANH TÓOC ), (COI PHIM),…khắc khoải, luyến tiếc với: “ Đường sá đã khá lên, có cầu Rộ, cầu Dùng, cầu Giăng, cầu trên đường HCM, quê nhà đạ đợ khổ. Nhưng, hình như tiếng khắc khoải gọi đò trong đêm vắng, trăng suông, se lạnh đang văng vẳng mô đây?” ( ĐI ĐÒ). Trăn trở như một tiếng thở dài:“ Ra Tết, lại dòng ngài từ quê ra thành phố, sau nhựng chuyến xe “Nam tiến”… làng quê đìu hiu vắng lặng.” (LÀNG QUÊ SAU TẾT).

Đến với Anh Đặng, mình như được thưởng thức “ đặc sản” quê nhà của một thời gian khó, giờ nghĩ đến vẫn rùng mình: ( KHOAI LANG XÉO ), hay đọc mà chảy nước miếng với ( MẦN GIÒ CHẢ ), ( ĐỤNG THỊT LỢN ), (CÚNG TẤT NIÊN),... Mình nghĩ nhớ quê không ai không nghĩ đến chuyện ăn vì nói như ông cha “ Miếng ngon nhớ lâu, đòn đâu nhớ đời ”.

Siêng năng, cần cù, tiết kiệm – dân Thanh Chương là thế, Anh Đặng cũng vậy: “ Nói là thầy giáo nhưng cụng là “người nông dân, có nghề phụ dạy học ”( TRỰC TẾT NĂM 1981) và “ Ra trường, đói kém, phị mần thêm nghề tay trái: Vẹ cuốn thư, trự thọ”( VẸ TRỰ THỌ), để rồi “ Hết giờ là lo về nhà cuốn hương. Trong nhà khi mô cụng sực nức mùi hương. Buổi túi, ngồi cuốn còng lưng đến 11-12 giờ. Bố mẹ cuốn, con đếm, đóng gói ” (CUỐN HƯƠNG), và có khi thì: “ Không biết từ ai, dân sáng kiến mần pin mói. Bì tui mần theo” (MẦN PIN MÓI), do đó mới có: “ Chuyện tui góp tiền để mua xe ai cụng biết. “Nguồn” chủ yếu là từ tiền lương đi phường, tiền bán sản phẩm tăng gia” (MUA XE ĐẠP ĐẦU TIÊN).

Đọc Anh Đặng, mình thấy, nói như từ ngữ thời thượng bây giờ có “ tinh thần khởi nghiệp”. Mình thấy từ dạo: “ Khi đạ có hơn 200 đồng, tui bắt đầu “phát tín hiệu” sẻ mua xe. Hồi đó mua xe chủ yếu là mua khung, phụ tùng rồi lắp dần, mua từ chợ Dùng, mua xe cụ của người ta bán lại ” (MUA XE ĐẠP ĐẦU TIÊN), cho đến khi: “ Năm 1988, tui đi phường, vay thêm bạn bè, mua cì xe Babeta "đầp hộp" 427.000 đồng. Thầy Điền, thầy Khảng cùng tui đi trửa mưa bạo sang Thanh Lịnh lấy bằng được, hại người khác lấy mất” (XE MÁY). Lớp trẻ ngày nay, không biết có phải do cuộc sống đã đổi thay, mình thấy không có ý chí mạnh mẽ, phấn đấu bằng thời của Anh Đặng.

Hình ảnh cha, mẹ trong Anh Đặng, cũng là cha, mẹ của nhiều người của vùng đất gió Lào, nhọc nhằn, vất vả, đọc xong thấy mình càng thương nhớ mẹ, cha hơn: “ 91 tuổi, Cha tui mất. Trong lời dặn lại, Cha tui viết: “Cha làm cán bộ nhưng tài sản để lại chỉ có chiếc xe đạp Thống nhất đi làm việc, chiếc đồng hồ bàn Slava để báo thức cho các con dậy học bài… Các con đừng bỏ đi, để làm kỉ niệm của Cha...” (XE ĐẠP), “ Năm nay, về xin giống cải the, đi mấy nhà không có. Nhìn ra bãi dưa hồi nào lại nhớ đến mùa hoa cải, nhớ màu hoa cải vàng tươi, nhớ dáng mẹ lom khom trên luống dưa nghèo... ”( NHỚ MÙA RAU CẢI ), “ Mỗi lần nghe bài hát "Đưa cơm cho mẹ đi cày", mỗi lần nhớ Mẹ, tôi lại cứ nhớ những bữa đưa cơm cho Mẹ đi cày ” (ĐƯA CƠM CHO MẸ ĐI CÀY).

Đọc “ NGƯỚC CỦI ”, mình muốn khóc vì nhớ mẹ ngày xưa. Cha ở xa, chị lớn đi lấy chồng, mình còn bé, mẹ đi củi bên sông về trưa nắng, đói lả mà không có người đi ngước hộ. Những dòng này, mình nghĩ Anh Đặng chắc viết về mẹ của tôi năm nào:“ Mẹ đi bứt lá bưởi, lá sả, lá quế, hạt mùi… nấu một nồi to, pha thêm nước lã, chọn nơi kín gió để tắm cho mấy anh em. Xà phòng hiếm, có xà phòng giặt gội đầu đã tốt lắm rồi. Mẹ vừa cì cọ khắp người vừa chỉ vào những gợn bẩn trôi theo dòng nước mắng yêu: Học trò, học troẹt, nhớp ra ri... ” (TẮM TẤT NIÊN). Thật đáng yêu với câu nói dối đầy tình mẫu tử, mẹ mình cũng đã từng nhiều lần như thế “ Mẹ tôi không khi mô ăn cá, thịt, trớng,… chỉ ăn một miếng gan, một miếng thịt nạc… Bọn tui hồn nhiên ăn. Sau ni no đủ, Mẹ vẩn ăn được… Dừ nghị lại cứ “ân hận” mại? ”( CƠM TẤT NIÊN).

Đọc tản văn Anh Đặng, thấy cuộc đời hạn hữu nhưng thật quý, đọc xong muốn chạy ù thật nhanh về thăm mẹ.

Trong ký ức của Anh Đặng, bóng dáng ngổ ngáo của “ Trai Cát Ngạn, gái Đô Lương ” như xưa nay người ta ví von, đồn thổi đâu chẳng thấy, chỉ có hình ảnh những con người cần cù, chịu khó, mộc mạc, chân thành của vùng đất “ Nhút mặn, chua cà ”. Như đưa ta trở về quá khứ, đọc Anh Đặng xong, mắt nhắm lại, mình có cảm giác như đang sống ở quê thời con trẻ, chờ mẹ đi chợ về. Hồi ức của Anh Đặng, nói như cách nói thời nay, đó là quảng cáo cho những người con xa quê với lời nhắn gửi: “ ngái ngôi chi mà anh nỏ về ”, hay là mời gọi những người không phải là dân Thanh Chương: “ Ai hay mít ngọt, mui bùi. Có về Cát Ngạn với tôi cùng về ”, “ Thanh Chương ngon cá sông Giăng. Ngon khoai chợ Rộ, ngon măng chợ Chùa ”.

Riêng mình, chẳng biết sao, đọc kỷ niệm xưa của Anh Đặng lại nhớ…người yêu cũ năm nào ở quê. Nhớ hai đứa đứng bờ rào trước cổng nhà nàng suốt đêm, mình chẳng mở miệng nổi để nói một câu, em cũng im lặng và vặt trụi lá hàng rào chè tàu, giật mình khi nghe tiếng dân thịt lợn đi chợ Lạt sớm, hai đứa lặng về không nói năng chi.

Những tháng năm đẹp đẽ nhưng gian khó của thời trai trẻ, Anh Đặng đã cõng con chữ đến những vùng khó khăn của huyện nhà. Kể lại năm tháng xưa, Anh Đặng chẳng phải để kêu khổ hay kể công, danh hiệu hão huyền “ ưu tú ” chi đó cũng xứng lắm nhưng Anh Đặng chẳng màng như ai đó “ mất dạy ” bao năm, làm đến chức “ Thượng thư ” rồi mà vẫn giành giật cho được một suất “ nhà giáo ưu tú ” thật đáng hổ thẹn. Anh Đặng là nhà giáo ưu tú trong lòng người dân Thanh Chương. Qua từng trang tự sự, hồi tưởng, Anh Đặng như một kẻ sĩ tự trọng, đầy lễ nghĩa - Ông đồ Nghệ là đây.

Có người thích Anh Đặng với hình ảnh cán bộ nhưng khiêm tốn, tâm huyết, gần dân, với mình, Anh Đặng – người thầy ấn tượng hơn. Mình không phải là học sinh của thầy, nửa chữ của thầy cũng không, thế mà giờ đây mình mong về quê, nhất là trong ngày 20 tháng 11, được gặp và “ chào thầy ”, được mời uống chè xanh và nghe thầy kể chuyện !

Nếu biên tập, thay một số phương ngữ để bạn đọc không phải là người Thanh Chương dễ hiểu và tập hợp và xuất bản tập tản văn Anh Đặng, mình tin sẽ được nhiều người đón nhận và yêu mến.

“ Sinh ra từ làng ” như bao người con của Thanh Chương, trước khi làm ông giáo hay công chức như bây giờ, Anh Đặng cũng một thuở gắn chặt với đồng ruộng, mang hơi thở của đồng áng, tiếng nói của làng quê. Phải chăng, được sinh ra và lớn lên của một vùng quê thanh bình, gian khó nhưng đầy tình làng, nghĩa xóm để có một Anh Đặng – nông dân – ông giáo – quan chức, mà vị trí nào, nghề nào cũng rất xứng đáng, trân trọng. Đọc tản văn của Anh Đặng, thấy quê hương như thật gần, làm ấm lòng người Thanh Chương xa xứ.

Với Anh Đặng, chẳng phải để sáng tác, viết văn, đó là những hồi tưởng, hoài niệm, những chuyện rất ĐỜI và rất NGƯỜI./.
jnguyenvan vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 20-02-2017, 10:24 AM   #5
Anh Đặng
Cao niên
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Đến từ: Xóm Cơn Tắt
Bài gửi: 2,376
Cảm ơn: 10,541
Được cảm ơn 14,074 lần trong 2,372 bài
Anh Đặng is on a distinguished road
Default

Tui đã đọc bài của bác.
-Tui rất xúc động và trân trọng cảm ơn tình cảm tốt đẹp của bác;
-Bác thật chịu khó, đọc rất nhiều bài của tui;
-Khi mô về, tui mời bác dạo đảo chè, mần bựa rượu thật vui!
__________________
Thương chắc khi đang sôống...
Chết rồi, nói mần chi...
:60:
Anh Đặng vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 20-02-2017, 01:38 PM   #6
duaconxunghe
Chợ Cồn đại hiệp
 
duaconxunghe's Avatar
 
Tham gia ngày: Sep 2009
Đến từ: Chợ Cồn
Bài gửi: 2,493
Cảm ơn: 7,336
Được cảm ơn 7,249 lần trong 2,198 bài
duaconxunghe is on a distinguished road
Default

Đọc danh sách mục bài viết cứ tưởng có chú nào ném rác vào diễn đàn, hóa ra là bác JNguyenvan. . Cảm ơn bác JNguyenvan, cảm ơn bác Anh Đặng. Em xin phép được gộp các bài viết này vào 1 Topic nhé!
__________________
"Để bây giờ biết yêu em
Là từ câu hát mẹ hiền ru ta!"
duaconxunghe vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Trả lời

Bookmarks


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể tạo chủ đề phim
Bạn không thể gửi Trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của bạn

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:42 AM.


Forum hiển thị tốt nhất với trình duyệt FireFox
Xây dựng và phát triển bởi những người con đất Thanh Chương
Tcnao.net là diễn đàn phi lợi nhuận, phi chính trị
Powered by: vBulletin Copyright ©2000-2020, Jelsoft Enterprises Ltd.