Thanh Chương - Nghệ An Online

Go Back   Thanh Chương - Nghệ An Online > HỌC ĐƯỜNG > Học tập > Linh tinh

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 04-07-2009, 09:42 PM   #1
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default Phượng Hoàng trung đô

Nếu Vua Quang Trung không đột ngột qua đời, Phượng Hoàng Trung Đô đã lả cố đô của chúng ta rồi. Đó là vùng đất tọa lạc thành phố Vinh ngày nay.
Sau này,1802 chính người Pháp đã chỉ cho Gia Long nên chuyển Tỉnh Đường Nghệ An từ Phù Thạch sang bên tê Vịnh sông Lam. Nếu vẫn dùng tên Phượng Hoàng Trung Đô thì ế mặt, mà không biết đặt lại tên gì nên cứ gọi là Vịnh. Do người Pháp không phân biệt được Vịnh và Vinh nên thành ra các văn bản người Pháp chỉ là Vinh, chính vì thế mà có tên thành Vinh sau này.
Nghe nói Phù Thạch ngày xưa sầm uất lắm, trên bến dưới thuyền san sát, phố chợ buôn bán tấp nập, đình chùa phát triển.
Sau khi Gia Long bắt các nhà buôn phải chuyển sang bên tê Vinh thì Phù Thạch trở nên vắng vẻ dần .
Nên chăng xây dựng một chủ đề về Phượng Hoàng Trung Đô trên 4Rum chúng ta?
Mong được đọc các ý kiến các bạn
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 04-07-2009, 10:00 PM   #2
fankien
Ma làng
 
fankien's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2008
Bài gửi: 2,623
Cảm ơn: 2,475
Được cảm ơn 3,435 lần trong 1,075 bài
fankien has a spectacular aura aboutfankien has a spectacular aura aboutfankien has a spectacular aura about
Default

Trích:
quanlenh đã viết View Post
Nên chăng xây dựng một chủ đề về Phượng Hoàng Trung Đô trên 4Rum chúng ta?
Thì bác đã xây dựng rồi đó thôi. Anh em cứ thế mà góp bài góp vở vô thôi.
Cảm ơn bác!
__________________
"Ôi phải chi lòng được thảnh thơi"!
fankien vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 07-07-2009, 12:43 AM   #3
vietnc
thảo dân
 
vietnc's Avatar
 
Tham gia ngày: Oct 2008
Đến từ: Ngọc Sơn
Bài gửi: 1,153
Cảm ơn: 559
Được cảm ơn 1,797 lần trong 592 bài
vietnc has a spectacular aura aboutvietnc has a spectacular aura aboutvietnc has a spectacular aura about
Default

Vị trí Nghệ An với hình ảnh công cuộc hợp tác giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp nói lên tất cả những đặc sắc của triều đại Tây Sơn trong thời gian xây dựng, phát triển tột cùng của họ. Quy Nhơn mới Việt hoá chỉ mang lại sức mạnh cường bạo, Phú Xuân, Thăng Long thì đầy dấu vết các cựu triều, lại tàn tạ với đám nông dân mệt mỏi trong loạn lạc hàng mấy trăm năm, với đám sĩ phu điều khiển quốc gia ngắc ngoải trong cái học từ chương thiếu sinh khí. Nghệ An, ngoài ý nghĩa là quê hương của chúa Tây Sơn, còn là vị trí ở giữa những ảnh hưởng đối kháng, muốn giữ vai trò dung hoà mà không muốn bị lệ thuộc.

Trích: Việt Nam thời Tây Sơn-Lịch sử nội chiến 1771-1802
__________________
vietnc
vietnc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 07-07-2009, 08:45 AM   #4
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default Phố phù thạch, gợi ý của nguyễn huệ?

Trong tờ chiếu năm 1788, Nguyễn Huệ truyền cho La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp tìm đất đặt kinh đô, có câu :”Tướng địa tác đô tại Phù Thạch”(xem đất lập đô ở Phù Thạch).
Xin được giới thiệu vài nét về phố cổ Phù Thạch :

PHỐ PHÙ THẠCH
Từ cuối đời Trần qua đời Lê đến đầu Tây Sơn, lỵ sở Nghệ An (Nghệ Tĩnh) đặt ở núi Lam Thành (tức Hùng Sơn), địa phận các xã Nghĩa Liệt và Triều Khẩu, nên sử sách chép nhiều tên : Thành Nghệ An, Thành Lam, Thành Hùng Sơn, Thành Nghĩa Liệt, Thành Triều Khẩu, lại có tên Thành Phù Thạch,

Thật ra Phù Thạch thuộc làng Vĩnh Đại, huyện La Sơn (nay là xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ), ở bờ nam sông Lam, đối ngạn Chợ Tràng, xã Triều Khẩu, phía dưới Lam Thành (nay thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) ở bờ bắc..
Mé sông có tảng đá lớn, lúc thủy triều xuống thì nổi lên trên mặt nước, nên có tên Phù Thạch (đá nổi).
Đá đâu lấp ló giữa dòng
Như bay hoa sóng, như chồng gương nga

(Nguyễn Huy Hổ : Mai đình mộng ký)
Gần gành đá là vực, một trong ba nơi nước sâu nhất sông Lam, thời trước.
Nhất đái trường giang thâm thủy tam
Lao tuyền, Phù Thạch,Long Vương đàm

(Một dải sông dài có ba nơi nước sâu nhất,
Khe Bò Đái, gành Phù Thạch, Đầm Long Vương)
(Nguyễn Thiếp – Phù Thạch phùng lão ngư)

Sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch (1757-1828) chép :
“. . . Trước, đất mé sông Lam rất rộng, sông La ở La Sơn, sông Minh Lương ở Thiên Lộc chảy vào chỗ ấy, chỗ sông Minh chảy vào có đá nổi, bên đông đá có bến đò, gọi là bến đò Phù Thạch. Trên bến đó có phố buôn bán của khách trú. Nhà cửa san sát, thuyền mành tấp nập. Tên phố là Phù Thạch Phố …”

Sách Đại Nam nhất thống chí cũng chép :”… Đến đây có sông Phù Thạch, phía đông có bến đò là chỗ cư trú của khách buôn phương bắc, nhà cửa, thuyền bè tấp nập, gọi là phố Phù Thạch …”

Theo tài liệu khảo sát của ông Trần Bá Chí (khảo tả về phố cổ Phù Thạch, bản in Roneo) thì giữa thế kỷ XVII, xã Vĩnh Đại cắt ra phần đất sát bờ sông Lam “Thượng tư bến Trùm,hạ chí Ân Quang tự”(trên tự bến Trùm dưới đến chùa Ân Quang, tức Chùa Gành) bán cho kiều dân người Hoa gốc Quảng Đông, Phúc Kiến. Họ không chịu sống dưới chính quyền Mãn Thanh, nên chạy sang Việt Nam lập nghiệp, đến đây tạu đất dựng lên làng Minh Hương.
Lúc thịnh nhật, làng Minh Hương có khoảng 100 hộ thuộc 12 dòng họ Quan, Quách, Đàm, Thái, Lâm, Lý, Ngô, Mạnh, Trần, Trương, Hồng, Lương. Đến sớm nhất là người các họ Thái, Quan, Quách, Đàm, Lâm vào khoảng đầu đời Thanh (sau 1622).
Người Minh Hương lập phố xá buôn bán và sản xuất hàng miến, bánh, gia vị … cung cấp cho dân trong vùng.
Trước khi có làng Minh Hương, từ thế kỷ XIII, XIV đời Trần, Phù Thạch đã là thắng địa, có tiếng xứ Nghệ.
Trong bài thơ “Qua đò Phù Thạch” Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) mô tả (Thanh Minh dịch) :
Triều lên triều xuống dòng xuôi ngược,
Mây hợp mây tan đá nổi chìm
Nốc cá nhấp nhoi làn sóng tỏa
Chùa sư thấp thoáng bức đồ in …


Chùa sư ở đây chính là chùa Gành-Ân Quang Tự, một thiền viện lớn ở Hoan Châu dựng từ đời Trần bên gành Phù Thạch.

Tổ tiên nhà thơ Phạm Tông Ngộ (thế kỷ XIV) đã từng tu hành ở đây, và từ nhỏ, ông cũng đã theo cha đến đây. Lúc già, ông có dịp trở lại và có những câu thơ hoài cảm (Thanh Minh dịch):
“…Năm nay Phù Thạch dong đò
Non sông như cũ đầu phơ bạc rồi
Còn đâu năm tháng mảng vui
Khói mây ngàn dặm chơi vơi tấc lòng …”

Về sau, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) cũng “Ba năm làm quan nhỏ - Mấy lần trọ chùa này”(Thơ Nguyễn Thiếp - Chùa Ân Quang). Ông lại viết trong bài thơ “Gặp ông chài già ở Phù Thạch” về vị trí chùa :
Bên trái chùa Ân Quang là phố Khách
Bên phải chùa Ân Quang là bến đò sông Lam.

Cuối đời Lê và đầu đời Nguyễn, phố Phù Thạch phát triển mạnh mẽ, thành nơi đô hội, thu hút khách thương, khách du. Năm 1777, Hoàng Giáp Bùi Huy Bích (1744-1818) vào làm Đốc đông Nghệ An qua đây, đã viết :
Lô nhô phố Khách hương trà ngát
Thấp thoáng nhà chùa bóng trúc che

Đến đời Nguyễn, vào dịp răm tháng Giêng năm Kỷ Tỵ 1809, Nguyễn Huy Hổ (1783-1841) nhân nghỉ lại phố Phù Thạch, xem hội đèn, đã viết lại trong “Mai đình mộng ký” cảnh đêm trăng, và xác nhận :
Phồn hoa nổi tiếng thị thành,
Này Phù Thạch phố là danh lịch triều

Trên phố dưới sông, bên Phù Thạch luôn tấp nập tàu thuyền ra vào buôn bán. Nhiều thuyền buôn nước ngoài cũng tới đây đổ hàng, cất hàng… Tương truyền một chiếc tàu Nhật Bản bị bão lật chìm ở Vũng Tàu gần gành đá.

Đối diện Phù Thạch, ở bờ Bắc , theo một tài liệu tiếng Nhật thì từ 1608, ở Hoa Viên, Phục Lễ (Triều Khẩu) có phố người Nhật, có chợ Tràng buôn bán đủ mặt hàng xứ Nghệ và của cả Đàng ngoài Đàng trong, của nước ngoài (thuốc bắc, lụa gấm Tàu, bút mực sách Tàu, cúc mã não, che ô long, sâm Cao Ly …)
Chợ Tràng tháng hăm bảy phiên
Ai đi bộ cứ bước, ai đi thuyền cứ đi

Ca dao

Ngoài ngôi chùa Gành-Ân Quang Tự, ở Phù Thạch còn có hai ngôi đền do người Minh Hương xây dựng từ lúc mới lập làng dựng phố:
Đền Nhà ông thờ Quan Vân Trường, viễn tổ họ Quan, dựng năm Bính Dần niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hy Tôn (1686). Đền rất nguy nga, trong có bức tượng đá cao 1 thước, và tượng Quan Bình, Châu Thương sơn son thiếp vàng, nhiều câu đối, tự khí đẹp. Lễ tế hàng năm được tổ chức rất linh đình vào răm tháng Giêng .

Đền Nhà bà còn to lớn hơn, gồm ba tòa thượng, trung và hạ điện. Đền thờ bà Thiên Hậu Thánh Mậu, Hải thần họ Lâm, người Phúc Kiến, được phong thần từ đời Tống, và Quý phi nhà Tống họ Dương.
Người Minh Hương còn đóng góp cùng người sở tại sửa sang ngôi chùa cổ Ân Quang ngày càng to đẹp. Đợt trùng tu cuối cùng là vào năm Giáp Tý đời Tự Đức (1864). Người ta đúc them quả chuông đồng 51 cân và tạo thêm nhiệu tự khí. Trong chùa có 55 pho tượng, 14 bộ Kinh, đặc biệt có 1 lư hương bằng đá chạm trổ tinh vi. Dân địa phương có câu rằng :
Ai vô Hà Tĩnh coi voi
Ai về Phù Thạch mà coi Chùa Gành


Khi Quang Trung Nguyễn Huệ ra bắc năm 1786, đến trấn lỵ Nam Thành, người Minh Hương đã cung cấp nhiều tiền bạc, giúp quân lương.
Từ năm Gia Long thứ 3 (1804), trấn lỵ Nghệ an chính thức dời ra Vĩnh Yên (Sau nay thường gọi là Vinh). Đời Minh Mệnh, Hoa kiều ờ Phù Thạch được lệng chuyển ra tỉnh Nghệ. Người các họ Quan, Quách, Đàm chuyển hết ra đợt đầu, dựng đền Quan thánh ở phía nam thành vào năm Đinh Dậu (1837). Người chín họ khác thì một phần chuyển ra tỉnh Nghệ, khoảng một nửa vẫn ở lại Phù Thạch tiếp tục buôn bán, làm miến, làm bánh kẹo hoặc tạu ruộng nương, chuyển sang làm nghề nông, một số di chuyển ngược sông Lam đi nơi khác …

Dưới thời thuộc Pháp, đường thuộc địa số 8 từ Vinh đi Na-pe(Lào) được mở vào thập kỷ thứ hai thế kỷ XX đi qua chợ Tràng sang Phù Thạch, Yên Hồ, Linh Cảm …, phố Phù Thạch tuy không đươc như xưa, vẫn trên quán dưới thuyền vui vẻ.

Năm 1930, Pháp lập lên ở đây một đồn binh- đồn Vĩnh Đại- để khống chế phong trào cách mạng… Nhưng Vĩnh Đại-Phù Thạch vẫn xây dựng được Xôviết làng.

Con dấu làng Minh Hương đến năm 1937 vẫn còn, nhưng số người Hoa chỉ còn chừng 30 hộ.
Do bờ sông Lam bị xói lở, vườn chùa Gành và một phần phố Khách xưa bị đổ xuống sông. Vũng tàu bên bến đò cũng bị lấp cạn. Hai ngôi đền Quan Thánh và Thiên Hậu Thánh Mậu thì qua các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, đã bị bom đạn và thời gian hủy hoại nặng nề.
Già nửa thế kỷ nay, đoạn đường quốc lộ số 8 qua đây cũng bị bãi bỏ. Vĩnh Đại-Phù Thạch không còn nằm trên trục đường giao thông quan trọng, trở thành vùng nông thôn hẻo lánh.
Nhưng phố cổ Phù Thạch đã từng có một lịch sử ngót mấy trăm năm không hề phai mờ hình ảnh trong sử sách và trong ký ức người dân địa phương.
Theo Lịch sử địa chí Hà Tĩnh

Do biến đổi về địa lý và dòng chảy, Sông Lam đoạn chảy qua Bến Phù Thạch bây giờ chỉ là một nhánh nhỏ, dòng chính nằm xa về phía tả ngạn cách một bãi phù sa rộng.
Hình ảnh về Đá nổi - Phù Thạch hiện tại như thế này đây :


thay đổi nội dung bởi: quanlenh, 22-08-2009 lúc 10:12 AM
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Người thích bài viết này:
Old 09-07-2009, 04:40 PM   #5
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default La sơn phu tử nguyễn thiếp

Thiên Nhẫn : La Sơn phu tử hay “Lam Hồng Dị Nhân”
La Sơn phu tử tức Nguyễn Thiếp tiên sinh, huý là Minh, tự là Quang Thiếp, sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý mão (1723) niêu hiệu Lê Bảo Thái năm thứ 4 tại làng Mật Thôn, xã Nguyệt Úc hay Nguyệt Áo (tục gọi là Nguyệt Ao), tổng Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là phủ Đức thọ), tỉnh Hà Tĩnh. Tổng La Thạch sau này lại thuộc về huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Nhưng trong cả cuộc đời, Nguyễn Thiếp có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc do Tiên sinh tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn: Khải Xuyên, Lạp phong cư sĩ, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Hạnh am, Hầu lục niên, Lục niên Tiên sinh, La Giang phu tử, La Sơn phu tử ... Mỗi danh hiệu đều có một lý do và hoàn cảnh riêng biệt. Theo các bậc kì lão ở vùng Nghệ An và Hà Tĩnh trong đó có Thân sinh tôi truyền khẩu thì Nguyễn Thiếp Tiên sinh là học trò Cụ Nguyễn Hành mà Tiên sinh gọi là Thúc phụ (chú).

Cụ Nguyễn Hành cũng quán xã Nguyệt Úc là một tay hay chữ nức tiếng, đỗ Tiến sĩ khoa Hội và Đình thí năm Quí Sửu (1733) niên hiệu Long đức Lê Thần Tông năm thứ 2. Sau khi bị bãi chức Án sát sứ tỉnh Thái Nguyên vì một nguyên nhân nào không được rõ ràng, quan Tiến sĩ họ Nguyễn lui về nhà mở trường dạy học, tác thành được nhiều người ở vùng Nghệ An và Hà Tĩnh.

La Sơn phu tử sinh trưởng trong một gia đình thuộc dòng dõi vọng tộc, là con cháu Lưu Quận công, Cao tổ của Phu tử là Nguyễn Bật Lạng đậu Bảng nhãn (dưới Trạng Nguyên, trên Thám Hoa) trong một Chế khoa dưới triều Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức nguyên niên (năm 1633).

Thân mẫu của Phu tử thuộc dòng dõi họ Nguyễn Trường Lưu, huyện Can Lôc cũng là một danh dòng họ danh giavọng tộc ở xứ Nghệ. Họ Nguyễn này có những nhân vật như Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, v.v...

Cụ Nguyễn Thiếp có bảy anh em, bốn trai ba gái, mà cụ là con thứ ba.

Được sinh trưởng trong một gia đình có văn học uyên thâm, bên nội cũng như bên ngoại, và bằng hữu có nhiều tay chữ xuất chúng, Cụ Nguyễn Thiếp, lúc thiếu thời đã nổi tiếng văn tài lỗi lạc. Cụ đậu giải Nguyên năm 21 tuổi, và “nhứt cử thành danh” nghiã là chỉ đi thi một khoa là đậu đạt. Rồi đến năm 26 tuổi, vì thầy và bạn thúc giục, Cụ đi thi Hội một khoa vào tam trường.

Từ đây, Cụ thề không đi thi nữa, và quyết tâm dứt bỏ con đường sĩ hoạn, chỉ vì Cụ thấy rõ lối học từ chương, khoa cử chẳng những vô ích cho bản thân và quốc gia, mà còn di hại cho Tiền đồ Tổ quốc và hậu thế không ít.

Các sĩ phu lúc bấy giờ phần nhiều chỉ mong chiếm đoạt được khoa bảng để tiến thân, mưu cầu phẩm tước bổng lộc với bọn quyền thần, và sằn sàng bịt mắt làm ngơ trước mọi mưu toan chuyên chế lộng hành, tác oai tác quái của bè lũ chúa Trịnh Doanh. La Sơn phu tử hồi đó cũng có đủ thế lực và điều kiện để tiến thân trên con đường sĩ hoạn như những người khác. Nhưng phu tử đã thấy rõ thế đạo suy vi, nhân tâm phân hoá sau một cuộc nội chiến bẩn thỉu kéo dài, và hiểm tượng vong quốc ngày càng thể hiện rõ rệt. Con đường duy nhất mà người trượng phu quân tử phải noi theo để cứu quốc vãn thời, lập thân xử thế là xa lánh vòng lợi danh để suy cầu thực học và chân lý.

Đặt vững niềm tin tưởng ở bản ngã bất khuất, bất di của mình hun đúc bởi khí thiên của Hồng Sơn Lam Thuỷ, nên Nguyễn tiên sinh không ngần ngại xa lánh người đời, để vui riêng với nếp sống thanh cao tự tại của mình, đóng cửa đọc sách và suy tư.

Nhưng gặp phải hoàn cảnh mẹ già và con đông, lại bị ràng buộc bởi tục lệ xưa “thi đậu phải ra làm quan giúp nước”, nên năm 1756, Tiên sinh phải ra nhậm chức Huấn đạo (giáo quan) ở huyện Lương Sơn (tức phủ Anh Sơn sau nầy). Lúc bấy giờ tiên sinh đã 34 tuổi.

Làm chức Huấn đạo 6 năm, đến năm 1762, Tiên sinh được bổ làm chức Tri Huyện huyện Thanh Chương (tỉnh Nghệ An).

Nhưng đến năm 1768, Tiên sinh đã 46 tuổi - bèn xin cáo quan về vườn. Như vậy Tiên sinh đã làm quan với nhà Lê chỉ được 13 năm.

Nguyên do sự từ chức của Cụ Nguyễn Thiếp là bởi vua Lê suy nhược, các chúa Trịnh lộng quyền, bọn hoạn thần chuyên chính, Lê Duy Mật dấy loạn, Trịnh Giang lại giết anh của Lê Duy Mật là Lê Duy Phương... Do đó, thế cuộc rối ren, rất khó xử. Làm việc quan thì Cụ thấy không chính đáng, can gián họ Trịnh thì cũng chẳng ăn thua gì, mà còn có thể bị liên lụy. Bởi vậy, Cụ nhất định từ quan.Sau khi treo áo mũ từ quan, Cụ lui về ở ẩn dật ở núi Thiên Nhẫn (Lục niên thành).Cụ đi từ ngọn núi nầy sang ngọn núi kia như một Tiên ông giáng thế. Đặc biệc là Cụ có đi thăm mộ Phạm Viên (Tiên ông đắc đạo) và thăm Bạch Vân Am của Nguyễn Bỉnh Khiêm vào lúc cụ đã 55 tuổi và 58 tuổi (1777-1780).

Tuy La Sơn phu tử đã về ở ẩn, nhưng tiếng tăm của ngài thì ai ai cũng biết, chấn động đến cả kinh kì, nào Hiệp trấn Bùi Huy Bích tặng thơ, nào chúa Trịnh Sum mời ra Kinh đô để trọng dụng.

Tuy nhiên, Cụ can gián chúa Trịnh đừng tiếm vị vua Lê, nhưng thấy ảnh hưởng không đâu vào đâu, Cụ lại trở về trại núi. Lúc nầy, Viên Quận công Quốc sư quốc lão lại mời Cụ đến để hỏi chuyện tư tiên.
__________________
"...Tiếng mộc mạc nhận ra người xứ Nghệ
Đi muôn nơi, giọng nói vẫn quê nhà
Bền chí lớn, chịu nhọc nhằn lam lũ
Trên đất nghèo, mơ sải cánh bay xa ..."

thay đổi nội dung bởi: quanlenh, 09-07-2009 lúc 04:57 PM
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 09-07-2009, 04:46 PM   #6
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default Thiên Nhẫn ; LA SƠN PHU TỬ NGUYỄN THIẾP

Khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ khởi nghĩa từ miền Trung rồi kéo quân ra Bắc hà đánh họ Trịnh, lúc đi qua vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, nghe đại danh của Tiên sinh, bèn thân hành tới nơi cầu hiền, và khẩn thiết mời Tiên sinh ra giúp việc nước. Nhưng Tiên sinh nhứt định từ chối lấy lẽ vì mình là thần tử nhà Lê, và cũng tự nhận mình là một kẻ sĩ cao khiết không muốn sống chung với bọn người bôn xu danh lợi, vinh thân phì gia. Bọn người nầy hễ thấy ai lên voi thì hoan hô a tòng, ai xuống ngựa thì đả đảo ruồng bỏ.

Bị Tiên sinh từ khước, Nguyễn Huệ hỏi : - Hay là Tiên sinh cho chúng tôi là đám người bình dân vô học, không đủ khả năng mưu đồ quốc gia đại sự, dẹp loạn yên dân ? Tiên sinh trả lời : - Bỉ nhân không có những nhận thức sai lầm lệch lạc như thế bao giờ. Vì lịch sử từ ngàn xưa đã chứng minh : Lưu Bang Hán Cao tổ cũng chỉ là một người bình dân; Lưu Huyền Đức xuất thân chỉ là một người thợ giày; Bình Định Vương Lê Lợi xuất thân cũng là một nông dân áo vải đất Lam Sơn. Bởi vậy sự thành công hay thất bại của anh em Ngài sau này, vấn đề chính yếu không phải là ở chỗ là người bình dân hay quí phái, mà là do tài đức và phương pháp làm việc của các Ngài. Riêng bỉ nhân thì không thể nào ra giúp Ngài được, vì ít nhiều bỉ nhân cũng đã là một thần tử nhà Lê, và đạo làm người của một nhà Nho không cho phép bỉ nhân làm như thế.

Lần nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà đánh chúa Trịnh thua tơi bời, khi trở về miền Trung lại một lần nữa ghé vào thảo lư Nguyễn Tiên sinh để yết kiến.

Vừa trông thấy Tiên sinh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nói : - Nay Tiên sinh đã chịu nhìn nhận tôi là một tay anh hùng chưa ? Tiên sinh trả lời một cách tự nhiên như không cần phải suy nghĩ : - Ngài có thể trở nên một người anh hùng cái thế, mà cũng có thể là một tay gian hùng, vấn đề còn tuỳ thuộc vào công việc làm tối hậu của Ngài sau lần này quyết định. - Như thế có nghĩa là sao ? Bắc Bình vương hỏi. - Điều đó thật rõ ràng như ban ngày. Họ Trịnh là một thứ quân phiệt hoán đoạt, lấn áp hết quyền hành nhà Lê, nay Ngài ra Bắc hà đánh dẹp họ Trịnh, chỉ có mục đích phù Lê mà thôi, như vậy Ngài là một vị anh hùng muôn thuở. Ngược lại, nhè đúng lúc nội bộ rối ren của đối phương để nổi lên giành quyền cướp nước cho mình và anh em mình thôi, như vậy là kẻ gian hùng chứ sao ?

Lần này, lại một lần nữa, Bắc Bình Vương ngỏ ý khẩn thiết mời Tiên sinh vào Trung giúp việc. Nhưng Tiên sinh vẫn từ chối, vẫn giữ mãi ý kiến lần trước.

Một thời gian sau, khi bắc Bình vương ở Thuận Hoá nghe tin Lê Chiêu Thống vội vã chạy sang Tàu cầu viện, và hai trăm ngàn quân Mãn Thanh bắt đầu dầy xéo trên lãnh thổ Việt Nam, Bắc Bình Vương, sau khi lên ngôi Hoàng đế, liền hùng dũng cất quân ra Bắc Hà đối phó với tình thế.

Khi vua chưa tới vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Nguyễn Thiếp Tiên sinh đã tự ý đi vào tận Hoành Sơn là nơi giáp giới Quảng Bình Hà Tĩnh để đón tiếp Ngài.

Vừa gặp mặt vua Quang Trung, Nguyễn Tiên sinh nói: - Hai lần trước, sở dĩ tôi từ khước lời Ngài là vì vấn đề vua Lê với chữ trung trong luân lí. Nay Lê Chiêu Thống đã rước voi về giày mả tổ, ông ta đã trở thành một tên phản quốc rõ ràng, thì nay vấn đề nhà Lê không còn nữa. Là một người công dân có ít nhiều hiểu biết, tôi có bổn phận phải hết sức giúp Ngài đánh bại lũ giặc Mãn Thanh, để cứu lấy giang sơn và chủng tộc.

Vua Quang Trung hết sức vui mừng, liền mời Tiên sinh ngồi vào ghế quân sư, như Lưu Bị nhà Hậu Hán đối với Khổng Minh vừa từ thảo xá ra vậy.

Khi thảo luận đến đại sự đánh giặc Thanh, Tiên sinh đã trình bày:Cổ nhân nói: “Sư xuất vô danh, sự cố bất thành” nghĩa là “Xuất quân không có chính danh nên việc không thành”. Bây giờ, đại quân của Hoàng đế ra Bắc Hà đánh giặc Mãn Thanh cứu nước là danh chính ngôn thuận đối với quốc dân, bởi lẽ Hoàng đế tượng trưng cho quốc quyền Việt Nam, đại diện cho nhân dân Việt Nam, Lê Chiêu Thống đã rước giặc Tàu về nước, thì không còn nhà Lê nữa.

Trước 200 trăm nghìn quân Mãn Thanh xâm lăng, một lực lượng hùng hậu của giặc, Tiên sinh nói: - Số quân của Hoàng đế kéo từ miền trong ra đây chưa đủ để chống đối với quân giặc, mà trở lại miền trong chiêu mộ thêm binh thì thời gian không cho phép. Vậy Hoàng đế phải tuyển mộ ngay quân lính ở đất Thanh Hoá, Nghệ An, và Hà Tĩnh này, vì nơi đây là đất thượng võ xưa nay, anh hùng nhiều, mà hảo hán cũng nhiều, nơi đây mà ngày trước vua Trần Nhân Tông đã nói khi nước ta bắt đầu chống giặc ngoại xâm Mông Cổ:

“ Hoan diễn do tồn thập vạn binh”

Khi đề cập đến chiến lượt, chiến thuật, Tiên sinh trình bày với vua Quang Trung : - Quân Mãn Thanh vừa kéo sang nước ta, chúng đang kiêu căng ngạo mạng và khinh địch. Doanh trại, chúng chưa thiết lập xong. Vậy chiến lược chiến thuật của ta là tốc chiến tốc quyết thắng.

Cổ binh thư đã nói : “Dĩ tật công lao giả thắng” và “Công kì vô bị, kích kì bất ý giả tất thắng” cùng “ Tiên phát giả chế nhân, hậu phát giả chế ư nhân”... Theo sự dự liệu của bọn tướng giặc Tàu, ít ra cũng phải tới cuối tháng Giêng, quân ta mới đến ngoài đó. Vậy ta phải làm thế nào cho quân ta tới Bắc Hà và Đông kinh (tức Hà Nội) trước sự dự đoán của chúng, và đánh chúng ngay trước sự bất ngờ. - Vậy thì chuyển vận quân thế nào cho kịp ? Vua Quang Trung hỏi.

Tiên sinh ứng khẩu trả lời ngay : - Phải bằng cách chạy mau, cứ hai người khiêng một người và phải thay đổi nhau Người đời kể chuyện rằng : Trong đại công đánh bại 200 nghìn quân Mãn Thanh của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, vị tham mưu tối quan trọng vẫn là Nguyễn Thiếp tiên sinh.

Sau khi giúp vua Quang Trung đánh bại giặc ngoại xâm Mãn Thanh, Nguyễn Tiên sinh được nhà vua tôn làm quân sư, vị cố vấn tối cao của triều đình. Những sự cải cách rộng lớn về chánh trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong triều đại nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, phần lớn đều do Nguyễn Thiếp tiên sinh hoạch định.

Tại triều, La Sơn phu tử chủ trương dùng Việt ngữ, dùng chữ Nôm trong các hạng công văn, Sắc dụ để thay thế chữ Hán.

Tiên sinh đã dày công phiên dịch các bộ sách tứ thư ( tức Đại học, Luận ngữ, Mạnh tử, và Trung dung) và Ngũ kinh (tức Kinh Thị, Kinh Thượng Thư, Kinh Lễ ký, Kinh Xuân Thu và Kinh Chu dịch).

Tiếc rằng những tác phẩm của La Sơn phu tử, vì vua Quang Trung chết yểu, sau đó là Nguyễn triều bị ảnh hưởng Tống Nho, các sĩ phu cắm đầu vào chữ Hán, thơ, phú, kinh nghĩa, tứ lục, nên những tác phẩm có giá trị không được ấn hành và bảo tồn, đến bây giờ không còn nữa.

Người ta truyền lại rằng, hôm vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Thiếp tiên sinh thở dài não nuột nói: “Đại sự hưu hỹ” nghĩa là “đại cuộc thế là hỏng cả”.

Có lẽ Nguyễn Thiếp tiên sinh đã biết rõ Nguyễn Quang Toản là một người vô tài bạc đức, vô dụng cho đại cuộc, không thể nối noi nghiệp lớn của thân phụ, cũng như Khổng Minh Gia Cát Lượng không hề không biết con người vô dụng của Hậu Hán chúa Lưu Thiện.

Tuy nhiên, cả hai người không thể vì tình tri ngộ của chúa Lưu Bị và vua Quang Trung mà không tận tâm tận lực giúp Lưu Thiện và Nguyễn Quang Toản.
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 09-07-2009, 04:49 PM   #7
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default Thiên Nhẫn : LA SƠN PHU TỬ NGUYỄN THIẾP

Tới khi Nguyễn Gia Long đã cậy dựa vào được thế lực ngoại bang do Bá Đa Lộc làm trung gian, nên thanh thế càng mạnh mẽ, cơ đồ nhà Nguyễn Tây Sơn lâm nguy, Nguyễn Tiên sinh đề nghị với Nguyễn Quang Toản hãy tạm dời kinh đô ra vùng Nghệ Tĩnh, và lấy nơi đây làm căn cứ địa. Nhưng Nguyễn Quang Toản không nghe. Hôm Vua Nguyễn Gia Long kéo quân tới chiếm kinh đô Phú Xuân, trăm quan văn võ vua tôi nhà Nguyễn Tây Sơn đều bỏ chạy cả. Chỉ có Nguyễn Thiếp Tiên Sinh vẫn điềm tĩnh ngồi yên ở tư thất, không cần chạy đi đâu hết.

Hạ xong Phú Xuân thành, Gia Long sai người mời tiên sinh tới hỏi chuyện.Vừa trông thấy Tiên Sinh, vua Gia Long hỏi: - Nghe đâu ông già làm quân sư cho nguỵ quyền Nguyễn Huệ chống lại trẫm.

Tiên sinh bình tĩnh phúc đáp: - Nguyễn Huệ là một tay anh hùng tuấn kiệt của nước Việt Nam. Nếu bảo rằng ông ấy có tội thì chỉ có tội riêng với ngài, với họ Nguyễn Phúc mà thôi. Còn đối với dân tộc Việt Nam, thì ông ấy là người có công rất lớn. Công nghiệp ấy là công nghiệp đã đánh tan 200 nghìn quân Mãn Thanh, nên tôi đã giúp ông ấy làm việc đó.

Sau cùng, vua Gia Long ngỏ ý muốn mời Nguyễn Tiên sinh làm cố vấn. Nhưng Nguyễn Tiên Sinh không nhận lời, viện lẽ tuổi đã già, sức lực đã yếu kém.

Cuối cùng, vua Gia Long cấp phu cáng và hành lý cho Tiên sinh trở về quê nhà dưỡng lão cho tới lúc lâm chung.

KẾT LUẬN

Để qui định một mẫu người “Trượng phu quân tử Đông phương”, các nhà Hiền triết ngày xưa đã đề ra ba tiêu chuẩn:

-“Phú quý bất năng dâm” là giàu sang không làm hoen ố căn bản đạo đức của một con người.

-“Bần tiện bất năng di” là nghèo hèn không làm thay đổi những ý hướng, những sơ tâm hoài bão.

- “Oai vũ bất năng khuất” là không khuất phục trước bất cứ một thế lực, một oai vũ nào. Ai thực hiện đầy đủ ba tiêu chuẩn đó mới được gọi là người Đại trượng phu.

Điểm qua những lời nói và việc làm của La Sơn phu tử, xuyên qua ba khúc ngoặc lịch sử (Lê Mạt, Nguyễn Huệ , Gia Long) chúng ta thấy rằng La Sơn phu tử đúng là một mẫu người "trượng phu quân tử Đông phương".

Thiệt vậy, khi đang làm một thần tử nhà Lê, được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ thỉnh làm quân sư, Phu tử đã không vì cảnh phú quý ấy mà làm hoen ố căn bản đạo đức của một con người (Vi thần tận trung).

Trong thời gian ẩn cư, Phu tử vẫn vui với cái sống thanh cao đạm bạc, không vì hoàn cảnh đó mà thay đổi sơ tâm hoài bão của một con người ẩn dật hiền sĩ.

Trước những thế lực, những oai vũ của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ (ở giai đoạn trước) và vua Gia Long (ở giai đoạn sau), thuỷ chung Phu Tử vẫn giữ trọn vẹn phong độ của một con người “Hiền sĩ”, làm cho Nguyễn Huệ cũng như Gia Long, cả hai đều phải mến phục.

*Ngoài những đức tính đáng kính mến ở trên, La Sơn phu tử còn để lại cho hậu thế chúng ta ba tấm gương trong sáng, đó là:

A. Lập trường dân tộc

Sinh ra và lớn lên trong chế độ phong kiến, như La Sơn phu tử không hề bị ràng buộc bởi ý thức hệ phong kiến trung quân một cách mù quáng mà người ta cho là ngu trung.

Nghĩa là khi Lê Chiêu Thống đã nhẫn tâm rước quân ngoại bang về giày xéo trên đất nước rồi, thì Nguyễn Tiên sinh quyết dứt khoát hẳn với nhà Lê để đứng hẳn về lập trường dân tộc, và hết mình giúp vua Quang Trung Nguyễn Huệ đánh giặc Mãn Thanh để cưú nguy đất nước.

B. Căn bản văn hoá dân tộc

Là một người học giả thuần tuý Hán văn, chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa sâu đậm, nhưng La Sơn phu tử vẫn gìn giữ được trọn vẹn văn hoá truyền thống dân tộc, cụ thể nhứt là việc Phu tử đã tận lực giúp vua Quang Trung nhà Tây Sơn trong vấn đề cải cách chữ Hán. Phu Tử nhứt quyết dùng tiếng mẹ đẻ (chữ Nôm) trong mọi sinh hoạt văn hoá Việt Nam.

C.Vấn đề tri nhân và thức thời

Không chịu ra giúp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ở giai doạn trước, mà Nguyễn Tiên Sinh lại cương quyết ra giúp vua Quang Trung ở giai đoạn sau.

Tiên sinh đã tận tâm tận lực giúp vua Quang Trung nhà Tây Sơn, mà lại từ khước giúp vua Gia Long họ Nguyễn Phúc khi đã được hãnh diện lên voi.

La Sơn phu tử quả thật là một người có nhãn lực truy nhân và thức thời vậy.

Cố nhân đã nói: “Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt”, chính La Sơn phu tử là một kẻ tuấn kiệt của nước nhà
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Old 10-07-2009, 03:19 PM   #8
nhoc
Chánh lý
 
nhoc's Avatar
 
Tham gia ngày: Jan 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài gửi: 440
Cảm ơn: 134
Được cảm ơn 179 lần trong 117 bài
nhoc is on a distinguished road
Default

Nhắc đến tên Phượng Hoàng Trung Đô là con nhớ đến Quang Trung, người ta còn gọi nó với cái tên "thành phố đỏ", nỏ biết tại răng?
Tên của La Sơn Phu Tử con đã từng nghe qua nhưng chuyện đời của ông thì giừ mới biết tường tận. Thật tình con rất cảm phục ông ấy ở việc biết thức thời là điều mà người xứ Nghệ nói chung, đặc biệt là người Nghệ thời xã hội Phong kiến nói riêng ít ai làm được bởi những ràng buộc về mặt đạo đức, tên tuổi... và những "lề thói" được quy chuẩn thành giá trị đạo đức hà khắc.
__________________
Hồn em trong veo, tình em mát lành!
* _ *
Thời gian ơi, sao mi cứ "lừ đừ trong từ đang và trôi ào ào ra khỏi từ đã..." ?!?. Hix, chờ ta với chứ
nhoc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 13-07-2009, 09:01 AM   #9
quanlenh
Cao niên
 
quanlenh's Avatar
 
Tham gia ngày: Mar 2009
Bài gửi: 5,450
Cảm ơn: 5,827
Được cảm ơn 12,857 lần trong 4,466 bài
quanlenh is on a distinguished road
Default Phượng hoàng trung đô

Cái tên "Thành phố đỏ" có mấy sự kiện liên quan :
- Thành phố có đội Xích vệ mang băng đỏ trên cánh tay thời Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931 bảo vệ chính quyền Xô viết nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc.
- Ngày hòa bình lập lại năm 1954, thành phố Vinh chỉ còn trơ lại những đống gạch đỏ do nhân dân ta phá bỏ nhà cửa tiêu thổ kháng chiến , và do thực dân Pháp tàn phá nốt những gì trước khi chúng rút chạy. Ngày trở vế chiến thắng trong gió bụi gạch đỏ lừ trang phục.
- Là cái tên thân thiết của đồng bào cả nước gọi quê hương CM, quê hương Bác Hồ.

NHOC thân mến ạ, chính bản thân con người và sự nghiệp của Cụ La Sơn Phu từ Nguyễn Thiếp là biểu tượng sinh động nhất của một Nhà Nho được hun đúc rèn dạy của mạch đất Địa Linh Nhân Kiệt quê ta đó. Cái "hà khắc" đã làm rạng rỡ tên tuổi Cụ và biết bao những Nhà Sĩ phu nổi tiếng của quê hương. Xin được thọ ân sự "hà khắc" của Tiền Nhân!

thay đổi nội dung bởi: quanlenh, 18-07-2009 lúc 11:04 AM
quanlenh vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này:
Old 31-08-2009, 03:01 PM   #10
thaihoangquy
Chánh tổng
 
thaihoangquy's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2009
Đến từ: Sài Gòn
Bài gửi: 961
Cảm ơn: 1,709
Được cảm ơn 1,970 lần trong 603 bài
thaihoangquy is on a distinguished road
Default

Làng Đỏ, Nghệ-Tĩnh Đỏ, Thành phố Đỏ



Lâu nay, các cụm từ "Làng Đỏ", "Nghệ - Tĩnh Đỏ", nhất là "Vinh - Thành phố Đỏ" được sử dụng nhiều trong diễn văn mít tinh, đặt tên sách, tên ca khúc. Thỉnh thoảng, trên trang truyền hình Thành phố Vinh chúng ta cũng được nghe phát thanh viên nói: Vinh- Thành phố Đỏ anh hùng...
Có nhiều người quan tâm, nhất là các cháu thanh niên, muốn hiểu kỹ nguồn gốc các địa danh được mang thêm từ "Đỏ" này. Tôi nẩy ra ý định tìm hiểu.
Từ "Đỏ" ra đời trong Cách mạng tháng 10 Nga, năm 1917, như "Quảng trường Đỏ", "Hồng Quân", "Cận vệ Đỏ"... Ở Việt Nam, từ "Đỏ" xuất hiện trong phong trào Xô- Viết Nghệ- Tĩnh những năm 1930-1931, như "Nông hội Đỏ", "Xích vệ Đỏ" (ở nông thôn), "Công hội Đỏ", "Sinh hội Đỏ", "Cứu tế Đỏ" (ở thành thị). Kẻ thù của cách mạng thì gọi là "Làn sóng Đỏ". Macsty, Giám đốc Nha Chính trị Phủ toàn quyền Đông Dương của Pháp viết: "Làn sóng Đỏ do sự tuyên truyền cộng sản gây ra trong các năm 1930-1931 tại một số vùng Trung kỳ..." (Lịch sử Nghệ- Tĩnh, T1, NXB Nghệ - Tĩnh, 1984).
Khi phong trào phát triển mạnh, một hình thức chính quyền mới gồm công nông, binh sỹ người nghèo ra đời ở nhiều làng, xã vùng nông thôn Nghệ - Tĩnh gọi là Chính quyền Xô - Viết (Dẫn ý của Báo Giác Ngộ, số ra ngày 21/9/1930, theo sách Lịch sử Nghệ - Tĩnh, đã nêu).
Trong thư gửi Quốc tế nông dân ngày 5/11/1930, nói về phong trào Xô - Viết Nghệ - Tĩnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định: "Hiện nay ở một số làng Đỏ, Xô Viết nông dân đã được thành lập. Một trong những địa phương đó là làng Yên Dũng Thượng". (Tức phường Hưng Dũng, thuộc TP. Vinh ngày nay). Vậy, gọi làng Đỏ Hưng Dũng bây giờ là sự kế thừa làng Đỏ Yên Dũng Thượng trong phong trào Xô- Viết Nghệ - Tĩnh từ năm 1930-1931.
Khi cuộc đấu tranh phát triển đến đỉnh cao, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có 33 huyện, 111 tổng, 1.234 xã nổi dậy chống đế quốc phong kiến; nghĩa là màu Đỏ cách mạng đã trào dâng và lan tràn khắp quê hương Nghệ - Tĩnh. Trong báo cáo có nhan đề "Nghệ - Tĩnh Đỏ", gửi Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản ngày 19/2/1931, Nguyễn Ái Quốc đánh giá: "Trong thời kỳ chinh phục của Pháp và trong phong trào cách mạng quốc gia 1905-1925, Nghệ -Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh vẫn giữ truyền thống cách mạng của mình, Nghệ - Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu Đỏ!".
Vậy, cụm từ "Nghệ - Tĩnh Đỏ" được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dùng để gọi phong trào Xô- Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931). Riêng cụm từ "Vinh- Thành phố Đỏ", cuốn sử thành phố chỉ ghi: "Vinh- Bến Thủy có Nông hội Đỏ, Sinh hội Đỏ, Cứu tế Đỏ, Thanh niên Cộng sản Đoàn, Phụ Nữ giải phóng ở đây cũng là những đoàn thể mang phẩm chất Đỏ, nên về sau Vinh cũng được gọi là Thành phố Đỏ" (Lịch sử Thành phố Vinh, tập 1, 1998). Như vậy, danh hiệu "Vinh - Thành phố Đỏ" về sau (tức sau 1930-1931) mới được gọi, nhưng được ai gọi, có văn bản hay nói miệng, thời gian cụ thể nào thì sách Lịch sử Thành phố Vinh chưa nói đến?
Theo giải thích của một số vị lão thành cách mạng và những người hoạt động bảo tồn, bảo tàng tỉnh Nghệ An, thì sự xuất hiện danh hiệu "Vinh - Thành phố Đỏ" không có đầy đủ các điều kiện như đối với "Làng Đỏ" hay "Nghệ -Tĩnh Đỏ". Nhưng trong phong trào Xô- Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931), Vinh- Bến Thủy là đô thị có phong trào phát triển mạnh trong công nhân và dân nghèo. "Kia Bến Thủy đứng đầu dậy trước", lời thơ trong bài ca tuyên truyền cách mạng hồi ấy nói lên điều đó.
Mặt khác, làng Yên Dũng Thượng của Vinh - Bến Thủy được gọi là "Làng Đỏ" ngày ấy, nay vẫn là Làng Đỏ- Hưng Dũng, thuộc TP. Vinh. Vinh dự của Hưng Dũng cũng là vinh dự chung của thành phố. Nên về sau, mới có chuyện gắn danh hiệu "Làng Đỏ" và "Thành phố Đỏ" mỗi khi phát động phong trào sản xuất, chiến đấu để động viên, kêu gọi nhân dân...
Tìm hiểu một số tư liệu về các cụm từ "Làng Đỏ", "Nghệ - Tĩnh Đỏ"và "Vinh- Thành phố Đỏ", có thể còn chưa đầy đủ, tuy vậy tôi cũng xin mạnh dạn giới thiệu với bạn đọc, mong mọi người, nhất là các vị lãnh đạo tỉnh, thành phố qua các thời kỳ phát hiện, điều chỉnh, bổ sung để lớp trẻ ngày nay hiểu rõ hơn về quê hương mình!


Nguồn baonghean.vn
__________________
Không có gì để ký
thaihoangquy vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể tạo chủ đề phim
Bạn không thể gửi Trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của bạn

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 04:44 AM.


Forum hiển thị tốt nhất với trình duyệt FireFox
Xây dựng và phát triển bởi những người con đất Thanh Chương
Tcnao.net là diễn đàn phi lợi nhuận, phi chính trị
Powered by: vBulletin Copyright ©2000-2019, Jelsoft Enterprises Ltd.