Chủ đề: Đàm đạo Hán Nôm
Xem bài viết đơn
Old 22-11-2011, 09:07 PM   #187
Anh Đặng
Cao niên
 
Tham gia ngày: Jul 2010
Đến từ: Xóm Cơn Tắt
Bài gửi: 2,376
Cảm ơn: 10,541
Được cảm ơn 14,074 lần trong 2,372 bài
Anh Đặng is on a distinguished road
Default

VŨ TRUNG SƠN THUỶ
(NON NƯỚC TRONG MƯA)
MỘT BÀI THƠ CỦA THI SĨ MIÊN TÔNG – VUA THIỆU TRỊ(*)

BÙI VĂN CHẤT


Hình 1 (sẽ đưa lên sau)
Trên đây là bản chữ Hán bài "Vũ trung sơn thủy" của thi sĩ Miên Tông được xếp theo hình bát quái trên bức khảm xà cừ tại điện Long An, nay là bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (H.1).
Phiên âm:
Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn
Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh
Sơn tỏa ám vân thôi trận trận
Lãng sinh khiêu ngọc địch thanh thanh
Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận
Dạng dạng ba châu liễu mậu vinh
Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn
Hướng lâm song tiễn yến phi khinh.
Dùng thể hồi văn liên hoàn, trắc bằng 4 vần, theo tác giả, bài thơ trên có thể đọc thành 64 bài thất ngôn, ngũ ngôn. Tuy nhiên chưa có vị nào đọc hơn 4 cách, mặc dù Viện bảo tàng Huế đã nhiều lần mời gọi.
Năm 1972, trên Tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, Pierre Daudin, một học giả phương Tây, đã giải ra 12 bài thất ngôn bát cú. Năm 1994, nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Tân Phong tìm ra đúng 64 cách. Năm 1998, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn tìm ra thêm 64 cách nữa, tức 128 cách trên một bài thơ.
Về cách giải, các học giả đã dày công nghiên cứu, vạch ra những đường nét chính để mọi người theo đó suy ra, đọc tiếp.
Ở bài viết này, chúng tôi xin nêu lên những cảm nhận ban đầu về một số cách đọc và từ những cách đọc ấy nhận ra nét độc đáo, vẻ kỳ bí của bài thơ, hiểu thêm thú chơi thơ trong dòng văn hóa Việt.
Bằng cách đọc ngược lại, từ dưới lên ta có thêm bài thơ đủ 4 vần trắc: Hướng, dạng, lãng, trướng; tương ứng với: Tấn, trận, nhuận, tấn và 4 vần bằng: Nhàn, sàn, san, loan; tương ứng: Thanh, thanh, vinh, khinh của bài nguyên mẫu.
Khinh phi yến tiễn song lâm hướng
Tấn dật ngư chu nhất điếu nhàn
Vinh mậu liễu châu ba dạng dạng
Nhuận tư đài giản thủy sàn sàn
Thanh thanh trích ngọc khiêu sinh lãng
Trận trận thôi vân ám tỏa san
Thanh biện ngạn tiền phong dật trướng
Tấn triều giang hạ vũ hoàn loan.
Cũng như bài “Mẹ”, các bài “Con” sau này, 8 câu thành 4 cặp, cặp nào cũng bám sát chủ đề: Non nước trong mưa.
Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn / Tấn triều giang hạ vũ hoàn loan
Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh / Thanh biện ngạn tiền thanh dật trướng
...
Ngay cả khi bớt đi hai chữ đầu hoặc hai chữ cuối, mỗi câu còn 5 chữ (từ), đọc lại thành bài thơ thể ngũ ngôn, thì, từng cặp một vẫn giữ được ý tứ chủ đề.
Liễu châu ba dạng dạng / Dạng dạng ba châu liễu
Dài giản thủy sàn sàn / Sàn sàn thủy giản đài
Hoặc:
Thủy giản đài tư nhuận / Nhuận tư đài giản thủy
Ba châu liễu mậu vinh / Vinh mậu liễu châu ba
...
Vậy là càng đọc càng tìm ra nhiều cách đọc, càng nhận ra nhiều điều thú vị. Ấy là thú chơi thơ.
Thú chơi thơ càng thú vị, hứng khởi khi được nhiều người thưởng thức, nhiều người tham gia. Việc giải nghĩa dịch thơ không ngoài ý đó.
Thế nhưng dịch sao cho sát, cho thoát đối với bất kì bài nào cũng khó. Lại càng khó đối với loại thơ đặc biệt này, bởi, còn phải dịch sao cho đảm bảo vần, nhịp, đúng câu, đúng từ, để khi áp đặt phương pháp vận hành theo cách đã dùng cho nguyên tác vẫn khớp bản dịch, nhất là những từ láy.
Ở bài thơ này, hầu như tác giả không dùng điển cố nhưng giàu hình tượng như "Vũ hạ giang triều...", "Phong tiền biện ngạn...". Lại rất giàu cảm xúc như: "Nhàn điếu nhất chu...", "Hướng lâm song tiễn...". Vậy bản dịch phải phản ánh đúng ý nghĩa và thần thái của bài thơ này.
Dưới đây xin dịch bài thơ: "Vũ trung sơn thuỷ" và một số cách đọc khác nhau:
Giải nghĩa: NON NƯỚC TRONG MƯA
1. Mưa dồn nước chảy quanh, triều sông dâng tràn ngập.
2. Trước gió, nước mênh mông bờ bến trong xanh
3. Núi mịt mù mây đùn lớp lớp, tới tấp
4. Sóng dâng lay giọt nước tiếng lanh canh
5. Lờ đờ (sàn sàn) trên suối rêu tươi nhuận
6. Sóng sánh (dạng dạng) bên cồn cỏ nước xanh
7. Nhàn một thuyền câu lúc thư thả (dật) lúc nhanh chớp (tấn)
8. Dóng hướng về rừng, đàn én dăng cánh kéo (tiễn) nhẹ nhàng bay

Bản 1. Dịch từ nguyên bản
1. Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngập
2. Lộng gió sông dào bến nước xanh
3. Non phủ kín mây tuôn tới tấp
4. Sóng khêu thưa giọt gõ lanh canh
5. Lan man suối trải rêu tươi mập
6. Sóng sánh cồn vươn cỏ tốt xanh
7. Nhàn thoáng một câu, thuyền nhẹ tắp
8. Dóng rừng dăng kéo én bay nhanh

Bản 2. Đọc ngược:
8’ Nhanh bay én kéo dăng rừng dóng
7’ Tắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhàn
…6’ 5’ 4’ 3’ đến
2’ Xanh biếc bến dào sông gió lộng
1’ Ngập dâng triều cuộn nước mưa dồn
Bản 3. Cũng từ bản 3, giữ nguyên câu, đọc ngược
8. Dăng kéo én bay nhanh
7. Một câu thuyền nhẹ tắp
… 6,5,4,5 đến
2. Sông đào bến biếc xanh
1. Nước cuộn triều dâng ngập

Bản 5. Từ bản 1, giữ nguyên câu đọc ngược.
8.Dóng rừng dăng kéo én bay nhanh
7.Nhàn thoáng một câu, thuyền nhẹ tắp
6, 5, 4, 3 đến
2. Lộng gió sông đào bến biếc xanh
1. Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngập

Bản 6. Theo bản 1 đọc ngược, đảo vế theo từng cặp: 2 – 1, 4 – 3, 6 – 5, 8 – 7
Xanh bến biếc đào sông gió lộng
Ngập triều dâng cuộn nước mưa dồn
Canh lanh gõ giọt thưa khêu sóng
Tấp tới tuôn mây kín phủ non
Xanh tốt cỏ vươn cồn sánh sóng
Mập tươi rêu trải suối man lan
Nhanh bay én khó dăng rừng dáng
Tắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhàn

Bản 7. Từ bản 6 đọc ngược lại
Nhàn thoáng một câu thuyền nhẹ tắp
Dóng rừng giăng kéo én bay nhanh

Dồn mưa nước cuộn dâng triều ngập
Bến đào sông gió lộng biếc xanh

Bản 8. Theo bản 1, đọc ngược từ chữ thứ 5, để yên 2 chữ (từ) cuối
Triều cuộn nước mưa dồn/ dâng ngập
Bến đào sông gió lộng/ biếc xanh
Tuôn mây kín phủ non/ tới tấp
Gõ giọt thưa khêu sóng/ lanh canh
Rêu trải suối lan man/ tươi mập
Cỏ vươn cồn sóng sánh/ tốt xanh
Thuyền câu một thoáng nhàn/ nhẹ tắp
Én kéo dăng rừng dóng/ bay nhanh

Bản 9. Theo bản 1, đọc dưới lên, đảo 2 chữ đầu câu cho vào cuối
Dăng kéo én bay nhanh/ rừng dóng
Một câu thuyền nhẹ tắp/ thoáng nhàn
6,5,4,3
Sông đào bến biếc xanh/gió lộng
Nước cuộn triều dâng ngập/ mưa dồn
v.v…
Cứ thế suy ra 64 bài, đọc đủ. Nhờ âm đơn của từ tiếng Việt, Hán Việt, mà ta lợi dụng tối đa lợi thế ấy, khi chọn lựa được từ thích hợp. Ấy cũng là một thú chơi thơ.
Nhân nói về thú chơi thơ, dưới đây xin giới thiệu một bài thơ theo kiểu khác (H.2)

Hình 2
1. Tương cầu tương ứng bất tương đương
2. Điền dã hứa đa thức dạ hương
3. Nhật xuất kim trì hà phú mạo
4. Nguyệt sinh ngọc bệ tất chiêu chương
5. Tảo khan thế thượng phù trầm mộng
6. Tịch kiến trần trung quý tiện vương
7. Tâm niệm bồng dinh hồ điệp kí
8. Kỳ tai ngôn ngữ tảo phong sương
Bài thơ được đọc từ thời niên thiếu, thuở học trường nhà, đã hơn 60 năm, lỗ mỗ không nhớ. Không biết tự sách nào, không rõ tên tác giả. Lớp lớn tuổi hơn, học lớp trên thời ấy kháo nhau: Thơ Tiên.
Bài này tuy không kì bí như bài "Vũ trung sơn thủy" của vua Thiệu Trị nhưng được truyền tụng trong dân gian, không kém phần độc đáo. Với 48 chữ được viết liên hoàn trên một đường tròn hay xếp theo hình bát quái (như đã thể hiện ở đầu bài viết này) đọc thành bài thơ thất ngôn bát cú. Bằng cách dùng chữ ở nửa dưới của chữ cuối câu trước làm chữ đầu của câu tiếp theo; cứ thế cho đến chữ cuối cùng của bài thơ, lấy chữ ở nửa dưới làm chữ đầu câu số 1
“Đương” chữ cuối câu thứ nhất có chứa chữ “Điền”. “Điền” chuyển sang làm chữ đầu câu thứ 2: “Điền dã…
Tương tự, “Hương” có “Nhật”: “Nhật xuất”…
“Mạo” có “Nguyệt”: “Nguyệt sinh”…
v.v…
Tới “Sương” có “Tương”: “Tương cầu tương ứng bất tương dương…”.
Quả là “Bất tương đương”. Không như những bài thơ khác có 56 con chữ mới đủ cấu thành bài thơ 7 chữ x 8 câu. Ở đây, phải chọn chữ cuối để tách ra… Gò bó thế không hề giảm ý vị nhịp vận của thơ. Hơn nữa, các cặp 3 – 4, 5 – 6 lại đối nhau rất chỉnh:
Nhật xuất – Nguyệt sinh; Phú mạo – Chiêu chương
Kim trì – Ngọc bệ; Tảo khan – Tịch kiến

Vậy mới gọi là Tiên thi – Thơ tiên
Là thơ chữ Hán nhưng hầu hết từ trong thơ đều Hán Việt hóa nên đọc lên là cảm nhận được ý thơ suy tư cõi thế, hồn thơ thấp thoáng cảnh tiên.
Chưa dám luận tới nhân sinh quan mà chỉ với tấm lòng cảm phục tài thơ, xin mạo muội được thể hiện tự dạng, phỏng dịch để giới thiệu là mong được sự chỉ giáo của các bậc đàn anh cùng bạn bè gần xa, bổ chính cho việc tái hiện và dịch thơ sao cho khỏi khiếm khuyết:
VÔ ĐỀ
Tương cầu tương ứng chẳng tương đương
Đồng ruộng cho nhiều thức dạ hương
Ngày, rực ao vàng, che giọt nắng
Đêm, ngời bệ ngọc, ngắm đài gương
Sáng, trần gian mộng cơn chìm – nổi
Tối, cọi thế quên chuyện mọn sang
Nghĩ tới bồng dinh, đời bướm gửi
Lạ thay, lời nói quét phong sương.

B. V. C

(*) Bài đã đăng tại Tạp chí Hán Nôm số 5 (84) - 2007.
của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.


Địa chỉ: Bùi Văn Chất
Số 05/04 Nguyễn Kiệm, Trường Thi
Vinh, Nghệ An
SĐT: 0383590354
SDĐ: 0973768474.
__________________
Thương chắc khi đang sôống...
Chết rồi, nói mần chi...
:60:
Anh Đặng vẫn chưa có mặt trong diễn đàn   Trả lời có trích dẫn
Những người thích bài viết này: